Tag Archives: quy hoạch

Phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu đô thị sân golf núi Nham Biền hơn 600 ha

UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu đô thị (KĐT) sân golf núi Nham Biền tại xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang và xã Tân Liễu, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (tỷ lệ 1/500).

Cụ thể, khu vực nghiên cứu lập quy hoạch thuộc địa phận xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang và xã Tân Liễu, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng. Ranh giới được giới hạn phía Bắc giáp phần đất canh tác thuộc các xã: Đồng Sơn, TP Bắc Giang và Tân Liễu, huyện Yên Dũng; phía Tây giáp tuyến đường quốc lộ 17; phía Đông và phía Nam giáp thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng.

Phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch khoảng 601,63 ha. Tổng dân số dự kiến khoảng 13.000 người. Khu đô thị sân golf núi Nham Biền có tính chất là khu dịch vụ du lịch kết hợp nghỉ dưỡng sinh thái làng bản đặc trưng gắn với cảnh quan núi và sân golf, với các hoạt động nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe,…

Các chức năng chính dự kiến quy hoạch trong khu vực nghiên cứu gồm: Khu dịch vụ du lịch, Khu sân golf và dịch vụ nghỉ dưỡng; Khu du lịch sinh thái núi Nham Biền, và khu dân cư đô thị…

Dựa trên mạng đường cấp đô thị phân chia Khu vực thành 05 khu quy hoạch bao gồm:

Khu A là khu đô thị hiện hữu nằm bám dọc chân núi phía Bắc núi Nham Biền; là khu dân cư thuộc thôn Tân Độ, thôn Liễu Nham được giữ nguyên hiện trạng nét văn hóa kiến trúc bản địa; và quy hoạch bổ sung các quỹ đất công trình hạ tầng xã hội nhằm cải thiện chất lượng sống của người dân đang sinh sống trong khu vực.

Khu B là khu dân cư phát triển mở rộng nằm bám dọc Quốc lộ 17; là các khu vực dân cư hiện trạng được cải tạo, chỉnh trang và khu vực ở phát triển mới. Đây sẽ là những điểm dừng chân hấp dẫn cung cấp đa dạng các sản phẩm du lịch và dịch vụ giúp du khách được sống thoải mái về tinh thần và vật chất vào những ngày nghỉ. Các hoạt động như sản xuất, dịch vụ nghỉ ngơi, lưu trú, tái hiện lại không gian sinh sống truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc của tỉnh Bắc Giang.

Khu C là khu dịch vụ thể thao phía Tây, là khu vực tổ chức các hoạt động thể thao, bao gồm khu thể thao sân Golf cao cấp, các loại hình thể thao đa dạng và tổ hợp các công trình dịch vụ thương mại phục vụ nhu cầu du khách, tạo động lực phát triển, thu hút đầu tư cho địa phương.

Khu D là khu dịch vụ thể thao phía Đông, là khu vực tổ chức các hoạt động thể thao, bao gồm khu thể thao sân Golf cao cấp phục vụ nhu cầu du khách, tạo động lực phát triển, thu hút đầu tư cho địa phương và các công trình phụ trợ… . Ngoài ra, các dịch vụ nghỉ dưỡng hiện đại, với bố cục cảnh quan kiến trúc mang sắc thái địa phương được bố trí sát ranh giới phía Nam khu dịch vụ thể thao, làm tăng giá trị du lịch sinh thái, thu hút đông đảo các du khách.

Khu E là khu vực bảo tồn cảnh quan đồi núi tự nhiên; được sử dụng làm lõi xanh cho đô thị.

Những hạng mục chính cần ưu tiên đầu tư xây dựng bao gồm: Công trình công cộng như trường học, công viên cây xanh, thể dục – thể thao, sân golf, nhà văn hóa, công trình thương mại dịch vụ,…; nhà ở xã hội, nhà ở biệt thự, chia lô liền kề…; hạ tầng kỹ thuật như hệ thống đường giao thông, cấp nước, cấp điện, thoát nước, bãi đỗ xe công cộng, cây xanh, cảnh quan dọc các tuyến đường giao thông.

Ngăn ngừa tình trạng “ôm” đất, “thổi” giá ở Bắc Giang

Thời gian qua, công tác quản lý thị trường bất động sản (BĐS) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang còn một số bất cập. Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, các cấp chính quyền, ngành chức năng của tỉnh Bắc Giang cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp, góp phần phát triển bền vững, lành mạnh thị trường BĐS.

Nhiều bất cập

Hai năm vừa qua, mặc dù ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 nhưng thị trường BĐS của tỉnh đã có bước phát triển tích cực, đóng góp vào phát triển KT-XH địa phương. Năm 2021, toàn tỉnh tổ chức 94 cuộc đấu giá với 5,4 nghìn lô đất. Tổng số tiền chênh lệch sau các cuộc đấu giá khoảng 2,2 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, thực tế tại các cuộc đấu giá đã xuất hiện hiện tượng trả giá rất cao so với giá sàn, rồi bỏ cọc, tạo giá ảo để thao túng thị trường. Việc mua đi, bán lại nhiều lô đất trúng đấu giá diễn ra khá phổ biến và thậm chí mang tính tổ chức, dẫn đến việc quản lý thị trường BĐS sau đấu giá còn bộc lộ một số hạn chế.

Khách hàng tham gia đấu giá quyền sử dụng đất ở tại thị trấn Bích Động (Việt Yên).

Cụ thể, hành lang pháp lý còn chồng chéo, mâu thuẫn và chưa rõ ràng như: Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh BĐS và Luật Dân sự; tiến độ triển khai các dự án khu đô thị (KĐT), khu dân cư (KDC) còn chậm, chủ yếu là phân lô bán nền. Quanh các khu công nghiệp (KCN), nhà ở xã hội cho công nhân còn thiếu đầu tư, xây dựng chậm. UBND các huyện, thành phố tổ chức đầu tư các KDC có quy mô nhỏ, số lượng lô đấu giá ra thị trường ít, chưa đáp ứng được nhu cầu. 

Không chỉ vậy, công tác công bố, công khai quy hoạch, nhất là cắm mốc giới quy hoạch ngoài thực địa còn hạn chế; người mua, người bán chưa hiểu rõ được quy hoạch và tiến độ triển khai các dự án, tiềm ẩn rủi ro khi kinh doanh BĐS.

Đặc biệt, năng lực tài chính của các chủ đầu tư có hạn, phải huy động vốn sớm để tái đầu tư. Một số dự án KĐT đang trong giai đoạn lựa chọn chủ đầu tư hoặc đang giải phóng mặt bằng đã nhận đặt cọc, giữ chỗ. Việc huy động vốn sớm của chủ đầu tư làm nhiễu loạn thị trường BĐS. Cùng đó, hoạt động của các sàn giao dịch BĐS chưa thực sự lành mạnh. Đó là chưa hình thành được hệ thống giao dịch được kiểm soát, bảo đảm tính pháp lý trong giao dịch BĐS, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. 

Bên cạnh đó, còn có hiện tượng các sàn giao dịch BĐS câu kết với nhau “ôm hàng”, “làm giá”, “tạo sóng”, “thổi giá”, gây “sốt ảo”. Đội ngũ làm môi giới BĐS còn yếu về chuyên môn, chưa có tính chuyên nghiệp, gây thiệt hại cho khách hàng. Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 2 nghìn người hoạt động môi giới BĐS, trong đó phần lớn chưa được đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ và chưa có chứng chỉ hành nghề.

Đồng bộ các giải pháp

Trước thực trạng trên, để từng bước phát triển minh bạch, lành mạnh, ổn định và bền vững thị trường BĐS, trước hết Sở Xây dựng đề nghị UBND tỉnh xem xét, kiến nghị với T.Ư ban hành một số văn bản về hướng dẫn thực hiện quản lý hoạt động kinh doanh BĐS, bổ sung chế tài xử lý mạnh trong hoạt động kinh doanh BĐS (như đặt cọc, giữ chỗ…). Đồng thời chỉ đạo các ngành liên quan, địa phương tăng cường xây thô hoàn thiện mặt ngoài dự án KDC, KĐT để hạn chế việc đầu cơ.

Một góc Khu đô thị thị trấn Vôi (Lạng Giang).

Cùng đó, Sở Xây dựng Bắc Giang rà soát, điều chỉnh, chuyển đổi cơ cấu các dự án BĐS phù hợp với nhu cầu của thị trường; đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các KĐT, KDC, nhất là nhà ở xã hội cho công nhân xung quanh các khu, cụm công nghiệp. Sở tăng cường kiểm tra, quản lý chặt chẽ hoạt động các nhà đầu tư, môi giới, điều kiện kinh doanh, xử lý nghiêm vi phạm trong đầu tư và hoạt động môi giới BĐS; tiếp tục phối hợp với Hiệp hội BĐS tỉnh tổ chức các lớp đào tạo để nâng cao nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân làm môi giới kinh doanh BĐS. Công bố thường xuyên và liên tục về quy hoạch, tiến độ dự án, các dự án đủ điều kiện chuyển nhượng hay chưa đủ điều kiện chuyển nhượng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về thị trường BĐS.

Bên cạnh đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư quan tâm lựa chọn các nhà đầu tư có kinh nghiệm về thực tiễn, năng lực về tài chính để thực hiện dự án KĐT; nghiên cứu bổ sung cam kết của nhà đầu tư trong hồ sơ dự thầu không được huy động vốn khi chưa đủ điều kiện. Sở Tư pháp kiểm soát năng lực của các tổ chức đấu giá, viêc tổ chức đấu giá phải bảo đảm công khai, minh bạch và đúng quy định.

UBND các huyện, thành phố rà soát cơ cấu các dự án BĐS phù hợp với nhu cầu của thị trường, bảo đảm cân đối giữa cung và cầu, tăng nguồn cung nhà ở giá rẻ cho người có thu nhập thấp; hạn chế việc đầu tư xây dựng các KDC nhỏ lẻ; nên tập trung đầu tư KDC đồng bộ hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật rồi mới đấu giá. Việc đấu giá không chia làm nhiều đợt để ngăn ngừa tình trạng “ôm” đất và “thổi” giá. Công khai thông tin quy hoạch, danh mục tiến độ triển khai các dự án KĐT, dự án nhà ở, dự án phát triển cơ sở hạ tầng để minh bạch thông tin, ngăn chặn hiện tượng tung tin đồn thổi, đầu cơ nhằm đẩy giá để trục lợi bất hợp pháp.

Đào Công Hùng, Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang

Hơn 863 tỷ đồng cải tạo, nâng cấp quốc lộ 31 đoạn TP Bắc Giang – huyện Lục Ngạn

Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam (Bộ Giao thông – Vận tải) vừa ký quyết định phê duyệt dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 31 đoạn Km2+400 – Km44+900 (đoạn TP Bắc Giang – huyện Lục Ngạn).

Công trình do Tổng cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư, có chiều dài 39,1 km (điểm đầu tại nút giao với quốc lộ 1, TP Bắc Giang; điểm cuối tại nút giao với đường tỉnh 290, huyện Lục Ngạn), được đầu tư theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, 2 làn xe cơ giới, tốc độ thiết kế 80 km/h (đoạn qua khu đông dân cư và đô thị, tốc độ thiết kế 60 km/h). Nền đường rộng 12 m, mặt đường rộng 7 m, gia cố lề mỗi bên 2 m. 

Kết cấu mặt đường bằng bê tông nhựa trên lớp cấp phối đá dăm (hoặc bê tông nhựa tăng cường trực tiếp trên mặt đường cũ). Các công trình trên tuyến gồm: Cầu, hệ thống thoát nước, an toàn giao thông…

Tổng mức đầu tư 863,6 tỷ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025. Trong đó, chi phí xây dựng 613,2 tỷ đồng.

Ban Quản lý dự án 3 (Tổng cục Đường bộ Việt Nam) được giao thực hiện công tác quản lý dự án.

Công trình được đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải; giảm ùn tắc, tai nạn giao thông; từng bước hoàn thiện tuyến đường theo quy hoạch; hỗ trợ phát triển KT – XH tỉnh Bắc Giang và khu vực. 

Để bảo đảm tiến độ chung của dự án, Tổng cục Đường bộ Việt Nam đề nghị UBND tỉnh Bắc Giang khẩn trương chỉ đạo các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. 

Ban Quản lý dự án 3 thực hiện và tổ chức thực hiện các công việc quản lý dự án và một số công việc thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư theo phân cấp ủy quyền; phối hợp chặt chẽ với Ủy ban MTTQ tỉnh Bắc Giang và chính quyền địa phương nơi có tuyến đường đi qua thông tin về dự án đến người dân nhằm tuyên truyền, giải thích, vận động người dân chấp hành tốt chủ trương của Nhà nước; chủ động phối hợp với chủ đầu tư tiểu dự án giải phóng mặt bằng xây dựng phương án bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư theo đúng chính sách, pháp luật hiện hành…

Lạng Giang: Hỗ trợ làm đường gắn với đô thị hóa

Nhằm đẩy nhanh tiến độ phát triển đô thị, huyện Lạng Giang (Bắc Giang) dành nguồn lực mở rộng các tuyến đường giao thông. Huyện phấn đấu đến năm 2025, tỷ lệ dân số đô thị đạt hơn 18%, đến năm 2030 tiệm cận đạt tiêu chí đô thị loại IV. 

Đồng chí Thân Hải Nam, Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết, để đạt các mục tiêu về phát triển đô thị, ngoài thu hút đầu tư xây dựng các khu đô thị, hạ tầng kèm theo, đến năm 2025, huyện phấn đấu 7 xã đạt tiêu chí đô thị loại V gồm: Tân Dĩnh, Thái Đào, Tân Hưng, Tiên Lục, Mỹ Thái, Nghĩa Hoà, Xương Lâm. Tuy nhiên, qua rà soát, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là giao thông, trong khi đây là một trong những tiêu chí quan trọng để công nhận đô thị. 

Do đó, huyện dồn lực hỗ trợ làm đường, lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng trên các đường trục chính ở các xã được lựa chọn. Tổng chiều dài đường cứng hóa hơn 80 km, kinh phí khoảng 300 tỷ đồng, riêng năm 2022 khoảng 60 tỷ đồng.

Lãnh đạo thôn Gốm, xã Thái Đào phổ biến chủ trương mở rộng đường đến người dân.

Thực hiện hỗ trợ làm đường, huyện cấp toàn bộ xi măng cứng hoá các tuyến có quy mô chiều rộng phần xe chạy từ 7,5 m trở lên, dày 25 cm. Huyện ban hành thiết kế mẫu, giao đơn vị chuyên môn hướng dẫn các xã triển khai; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, phát huy vai trò tổ dân vận vận động nhân dân đóng góp kinh phí, ngày công, hiến đất mở rộng đường.

Chủ trương hỗ trợ làm đường được chính quyền địa phương, người dân các xã tích cực hưởng ứng, triển khai thực hiện ngay từ đầu năm. Tại xã Thái Đào, phát huy kinh nghiệm, cách làm khi triển khai Nghị quyết 06, 07 của HĐND tỉnh về hỗ trợ làm đường giao thông nông thôn ở giai đoạn trước, trên cơ sở chỉ đạo của huyện, năm nay xã ban hành nghị quyết về cơ chế hỗ trợ làm đường giao thông đạt chuẩn đường đô thị. Ngân sách xã hỗ trợ tối đa 50% kinh phí làm đường trục thôn, liên thôn đối với các tuyến đường được cải tạo, nâng cấp cứng hóa có chiều rộng mặt đường tối thiểu từ 7,5 m trở lên. 

Đồng chí Nguyễn Văn Nam, Chủ tịch UBND xã Thái Đào thông tin, việc mở rộng đường được bà con đồng thuận cao. Đến nay, cơ bản đường trục thôn, xã được cứng hóa song một số tuyến chưa bảo đảm, bề mặt nhỏ chỉ khoảng 2-3 m. 

Ước tính, chiều dài tuyến đường phải nâng cấp, mở rộng hơn 5,3 km, tập trung tại các thôn: Then, Vạc, Gốm, Chùa. Xã đã tuyên truyền, thôn tổ chức họp dân để bà con nắm được kế hoạch triển khai, cắm mốc, giải phóng mặt bằng, phấn đấu trong quý III năm nay hoàn thành cứng hóa các tuyến đường. 

Qua khảo sát, tuyến đường trục nối thôn Chùa – Gốm dài khoảng 2 km, theo thiết kế phải thu hồi hơn 1 ha đất, trong đó thôn Gốm hơn 5 nghìn m2 còn lại ở thôn Chùa, liên quan khoảng 100 hộ. Hai ven đường người dân chủ yếu cấy lúa, trồng màu. Bà Trần Thị Thoan, thôn Gốm nói: “Người dân chúng tôi luôn mong có đường mới song nếu tự làm thì không biết đến bao giờ mới làm được. Vì vậy, dù ruộng đã được cấy lúa nhưng khi Nhà nước cần mặt bằng, gia đình tôi sẵn sàng thu dọn ruộng để hiến đất phục vụ làm đường”.

Ngoài các xã được tập trung hỗ trợ, huyện lồng ghép nguồn vốn để dồn lực cho tiêu chí giao thông. Đơn cử, xã Đại Lâm được chọn xây dựng xã nông thôn mới nâng cao năm 2022, riêng tiêu chí giao thông nông thôn, xã đặt mục tiêu hoàn thiện hệ thống giao thông trục xã, thôn, nâng cao tỷ lệ cứng hóa 100% đường trục thôn, liên thôn; 95% đường ngõ xóm. Theo đại diện lãnh đạo xã Đại Lâm, đến nay các tiêu chí về giao thông của địa phương cơ bản bảo đảm, với đường trục xã từ hơn 7,5 m trở lên, trục thôn nhiều đoạn rộng 6,5-7 m. Những đoạn trục còn nhỏ hẹp ở các thôn: Hậu, Dầu, Dễu, Lải đang được thi công, hoàn thành vào tháng 5 tới.

“Hiện nay, các địa phương trong huyện đang tập trung thực hiện theo lộ trình đề ra. Năm 2022 sẽ cứng hóa 32 km, còn lại thực hiện trong năm 2023, 2024. Dự kiến, các xã: Thái Đào, Tân Hưng, Đại Lâm sẽ hoàn thành tiêu chí về giao thông của đô thị trước hạn”, đồng chí Thân Hải Nam cho biết thêm.

Hy vọng, bằng các giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cao cho hạ tầng giao thông, huyện Lạng Giang sẽ tiệm cận đạt tiêu chí đô thị loại IV vào năm 2030.

Tiến Phát Land – Chi Nhánh Việt Yên chính thức đi vào hoạt động

Với mục tiêu mở rộng và phát triển mạnh tại huyện Việt Yên – thủ phủ công nghiệp của tỉnh Bắc Giang. Sau bao ngày ấp ủ và chuẩn bị, ngày 17/3/2022, Tiến Phát Land chi nhánh Việt Yên đã chính thức đi vào hoạt động.

Tiến Phát Land xin trân trọng kính mời anh chị em qua văn phòng cùng giao lưu và chia sẻ các cơ hội hợp tác đầu tư.

Dưới đây là một số hình ảnh trong công tác chuẩn bị cho chi nhánh đi vào hoạt động:

Tổng Giám đốc đích thân thị sát địa điểm đặt văn phòng

Công tác sửa sang lại văn phòng

Tổng Giám đốc cùng một số anh em nhân viên tự tay trồng những mầm xanh cho văn phòng

Văn phòng đã hoàn tất

Cảng logistic hiện đại sẽ được xây dựng tại xã Yên Lư, Yên Dũng

UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết xây dựng tiết Cảng logistic Long Xá, xã Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (tỷ lệ 1/500).

Theo đó, khu vực lập quy hoạch thuộc địa bàn xã Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ranh giới được giới hạn phía Bắc giáp đê Tả sông Cầu (đê cấp III); phía Nam giáp sông Cầu; phía Đông giáp bãi sông Cầu và trạm bơm Yên Tập Bắc; phía Tây giáp khu vực bãi sông và khu dân cư thôn Thạch Xá, xã Yên Lư.

Diện tích nghiên cứu lập quy hoạch khoảng 80 ha. Cảng logistic Long Xá là cảng thủy nội địa, cảng cạn (ICD), dịch vụ tổng hợp, logistic với hạ tầng kỹ thuật và công nghệ hiện đại, đồng bộ.

Các hạng mục cần đầu tư xây dựng gồm: Công trình hạ tầng kỹ thuật như đường giao thông nội bộ, bãi đỗ xe, cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng, thông tin liên lạc, ga rác, trạm xử lý nước thải…; công trình như cầu cảng xuất nhập hàng hóa tổng hợp, kho bãi hàng hóa, khu kho CFS, kho lạnh và các khu điều hành, dịch vụ tiền cảng, khu neo đậu và quay trở tàu, kết nối luồng thủy nội địa quốc gia trên sông, hạ tầng kỹ thuật, cây xanh cách ly.

Bắc Giang: Phấn đấu hoàn thành dự án đường nối QL37 – QL 17 đi Võ Nhai trong năm 2023

Dự án đường nối quốc lộ (QL) 37 – QL 17 đi Võ Nhai (Thái Nguyên) được khởi công cuối tháng 12/2021, đi qua các huyện: Việt Yên, Tân Yên, Yên Thế (Bắc Giang) có tổng mức đầu tư hơn 1.452 tỷ đồng từ nguồn ngân sách Trung ương và tỉnh.

Nhà thầu thi công nền đường đoạn qua xã Canh Nậu (Yên Thế).

Dự án do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh làm chủ đầu tư gồm tuyến chính và tuyến nhánh. Trong đó, tuyến chính của dự án được chia làm hai đoạn, đoạn 1 dài khoảng 28,5 km được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, chiều rộng nền đường 12 m, mặt đường 11 m; đoạn 2 dài 13,6 km là đường cấp III miền núi nền đường 9 m, mặt đường 8 m. 

Đây là dự án trọng điểm của tỉnh, có vai trò quan trọng, tạo động lực phát triển KT-XH liên vùng trong tỉnh và kết nối với tỉnh ngoài. Hiện nay, liên danh nhà thầu Công ty cổ phần Xây dựng Thương mại 559 – Công ty TNHH Xây dựng Tân Thịnh – Công ty cổ phần Đầu tư xây lắp và Thương mại Hồng Hà đang tập trung nhân lực thi công. Cùng đó, các địa phương tập trung cao cho công tác giải phóng mặt bằng. Nhờ vậy, đến nay, tuyến chính đã đào hữu cơ, đào nền, khuôn, đắp nền được hơn 6 km; đắp xong đường công vụ để thi công cầu Sông Máng (Yên Thế). Các tuyến nhánh như: Đường tỉnh 294 qua các đoạn Km0+00 – Km7+465; đoạn Km8+739 – Km 15+107 đang triển khai đổ bê tông nhựa. 

Theo đại diện chủ đầu tư, nếu giữ được tiến độ thi công như hiện nay dự án sẽ hoàn thành trong năm 2023, sớm hơn 6 tháng so với kế hoạch.

Bắc Giang: Phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng giai đoạn 2022 – 2030

UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành quyết định phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2022 – 2030 nhằm khai thác lợi thế, tiềm năng tài nguyên du lịch địa phương để tạo sản phẩm du lịch mới, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và tiện ích phục vụ lợi ích công cộng, góp phần thu hút người dân và du khách đến tham quan vui chơi, giải trí, du lịch trải nghiệm.

Mục tiêu Đề án nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị bản sắc văn hóa, phát huy giá trị tài nguyên du lịch và cảnh quan thiên nhiên, môi trường du lịch, nâng cao trình độ dân trí, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động, thu hút khách du lịch. Xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng thông qua hình thành và phát triển các điểm du lịch cộng đồng. Phát triển du lịch cộng đồng trở thành loại hình du lịch mũi nhọn, bền vững, làm tiền đề thúc đẩy các loại hình du lịch khác tại tỉnh.

Theo đó, tỉnh Bắc Giang đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2025, công nhận các khu, điểm du lịch cộng đồng với các sản phẩm du lịch đặc thù. Tập trung đầu tư, xây dựng và phát triển 2 mô hình du lịch thí điểm tại huyện Lục Ngạn, tiếp tục hỗ trợ các điểm du lịch cộng đồng hiện có. Chỉ tiêu khách du lịch đạt 2 triệu lượt người, trong đó khách lưu trú đạt 1 triệu lượt người, doanh thu đạt trên 100 tỷ đồng, tổng số lao động trực tiếp đạt trên 2.000 người.

Đến năm 2030, tiếp tục hỗ trợ nhân rộng các điểm du lịch cộng đồng tại các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Việt Yên và Sơn Động; tiếp tục hỗ trợ các điểm du lịch cộng đồng khác, đặc biệt là 20 điểm du lịch cộng đồng vùng cây ăn quả Lục Ngạn. Chỉ tiêu khách du lịch đạt 3 triệu lượt người, trong đó khách lưu trú đạt 2 triệu lượt người. Doanh thu đạt trên 450 tỷ đồng, mức tăng trưởng bình quân đạt 25%/năm (nếu kiểm soát được Covid-19). Tổng số lao động trực tiếp đạt trên 5.000 người. Phấn đấu đến hết năm 2030 các điểm du lịch cộng đồng và thăm quan vùng cây ăn quả có đủ điều kiện đón ít nhất 1 triệu lượt khách/năm, trong đó có 10 nghìn khách quốc tế.

Khai thác lợi thế, tiềm năng tài nguyên du lịch địa phương.

Giai đoạn 2022 – 2030, tập trung phát triển các mô hình du lịch cộng đồng kết hợp với (1) Du lịch văn hóa, lịch sử tâm linh; (2) Du lịch trang trại nông nghiệp, sinh thái, trải nghiệm (Farmstay); (3) Du lịch ẩm thực, mua sắm; (4) Du lịch chăm sóc sức khoẻ và làm đẹp (Wellness Tourism). Quảng bá rộng rãi các sản phẩm du lịch cộng đồng của tỉnh, thông qua sử dụng công nghệ số trong du lịch (du lịch thông minh).

Nâng cấp tổng thể cơ sở vật chất, các dịch vụ gia tăng kèm theo và kéo dài thời gian lưu trú; thúc đẩy chi tiêu của du khách khi tiêu thụ các sản phẩm du lịch cộng đồng tại tỉnh. Hình thành các công ty có điều kiện phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương. Tạo việc làm cho người lao động tại các điểm du lịch cộng đồng, tăng nguồn thu nhập cho người dân từ hoạt động du lịch. 

Để đạt được mục tiêu trên, Đề án đưa ra 10 nhóm giải pháp đó là: Đồng bộ cơ sở hạ tầng và xây dựng nền tảng điểm du lịch cộng đồng thông minh, xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, có khả năng kết nối và có đủ điều kiện để phục vụ nhu cầu của khách du lịch; nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và cơ chế, chính sách phát triển du lịch cộng đồng; phát triển nhân lực du lịch cộng đồng; xây dựng, phân loại và ưu tiên sản phẩm du lịch đặc thù; phát triển thị trường du lịch, định hướng thị trường khách hàng; tuyên truyền, xúc tiến – quảng bá du lịch cộng đồng; liên kết sản phẩm – thị trường; xây dựng ứng dụng (App) hướng dẫn khách du lịch đến tham quan du lịch cộng đồng tại tỉnh; các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư như nâng cấp hạ tầng giao thông đến các điểm du lịch cộng đồng; giải pháp về môi trường, cảnh quan, an toàn du lịch, bảo đảm quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy các tạp chí hàng đầu thế giới bình chọn là điểm đến an toàn, hấp dẫn của Việt Nam.

Nhiệm vụ năm 2022 đến 2025 sẽ xây dựng và vận hành 2 mô hình du lịch cộng đồng thí điểm. Đồng thời tiếp tục hỗ trợ các điểm du lịch cộng đồng hiện có. Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng tại các khu, điểm du lịch cộng đồng; tuyên truyền nâng cao nhận thức về phát triển du lịch cộng đồng; tổ chức tập huấn bồi dưỡng nhân lực du lịch cộng đồng. Từ năm 2025 đến 2030 sẽ hoàn thành việc xây dựng các quy chuẩn, quy chế, điều lệ hoạt động của các khu, điểm du lịch. Nhân rộng mô hình du lịch cộng đồng ra các điểm có đủ điều kiện, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống sản phẩm du lịch.

Phát triển khu đô thị, khu dân cư: Bảo đảm quy hoạch, tránh lãng phí nguồn lực

Là địa bàn có dân số cơ học tăng cao, kéo theo nhu cầu nhà ở lớn do thu hút nhiều tập đoàn, doanh nghiệp (DN) đầu tư vào khu, cụm công nghiệp nên Bắc Giang đã hình thành hàng loạt khu đô thị (KĐT), khu dân cư (KDC) mới. Thời gian tới, việc tăng KĐT, KDC được nhiều địa phương triển khai, điều này thêm nguồn cung cho thị trường bất động sản (BĐS) song việc phát triển phải bảo đảm quy hoạch.

Triển khai hàng loạt dự án

Theo ông Lại Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội BĐS tỉnh, qua thực tế năm 2021, thị trường BĐS sau đỉnh điểm của dịch Covid-19 tại Bắc Giang (tháng 5) phục hồi khá nhanh, thậm chí được đánh giá nhanh hơn nhiều tỉnh, TP lớn trong nước. Đất nền vẫn chiếm đa số trong thị trường giao dịch BĐS (khoảng 70%), nhất là KĐT, KDC xây dựng từ nguồn vốn đầu tư công. 

Khuôn viên tháp đồng hồ – KĐT phía Tây Thị Trấn Vôi

KĐT phía Tây Thị Trấn Vôi

Bước sang năm 2022, tiềm năng BĐS Bắc Giang lớn, dự báo lượng hàng bán ra tương đối dồi dào vì nhiều nhà đầu tư dự án vốn ngoài ngân sách mới tung ra khoảng 30% tổng sản phẩm trong năm 2021. “Một số khu công nghiệp (KCN) vừa được Thủ tướng chấp thuận cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy phát triển KĐT, KDC. Qua đó sẽ có nhiều sản phẩm ở nhiều phân khúc khác nhau cho thị trường BĐS, thêm cơ hội cho nhà đầu tư”, ông Sơn nói.

Nắm bắt tình hình và nhận định thị trường BĐS những năm tới, các địa phương trên địa bàn tỉnh đẩy nhanh tiến độ và đề xuất hàng loạt dự án KĐT, KDC mới. Đến nay, đơn vị chuyên môn của huyện Tân Yên đã phối hợp nghiệm thu KĐT Chum Nho, thị trấn Nhã Nam để chuẩn bị tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất ở trong quý I/2022. Dự án có quy mô hơn 11 ha với khoảng 300 lô đất ở liền kề, biệt thự. Đây là dự án đô thị hiện đại, bảo đảm không gian sáng, xanh, sạch cho cư dân khi sinh sống trong khu vực. 

Cùng với dự án trên, các dự án đang được đẩy nhanh tiến độ thi công như: Đồng Chủ, Đồng Cầu, OM7, Tây Nam (thị trấn Cao Thượng); KĐT phía Đông Nam, thị trấn Nhã Nam; KDC Bỉ (xã Ngọc Thiện), KDC Việt Ngọc (xã Việt Ngọc)… với quy mô từ 10 đến gần 70 ha. 

Theo ông Nguyễn Viết Toàn, Chủ tịch UBND huyện Tân Yên, địa bàn được quy hoạch có 5 KCN, 8 cụm công nghiệp (CCN) và dự báo tốc độ phát triển kinh tế của huyện khá nhanh trong những năm tới cộng với hạ tầng giao thông kết nối liên tỉnh ngày càng hoàn thiện, huyện đầu tư, thu hút nhiều dự án KĐT, KDC mới. Riêng năm 2022, huyện đề xuất 41 dự án KĐT, KDC mới.

Tại huyện Yên Dũng đang triển khai 76 dự án, trong đó 42 dự án bằng nguồn vốn đầu tư công còn lại là dự án đầu tư nguồn ngoài ngân sách. Với vị trí thuận lợi, huyện Yên Dũng có điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho phát triển KT-XH; nhu cầu về đất ở, nhà ở của người dân là rất lớn. Dự báo, đến năm 2030, dân số huyện khoảng 205 nghìn người, năm 2040 khoảng 225 nghìn người. Do vậy, huyện đề xuất giai đoạn 2022-2025 thực hiện 29 dự án KĐT, KDC.

Sử dụng hiệu quả quỹ đất ở

Tổng hợp của Sở Xây dựng, cùng với các huyện Tân Yên, Yên Dũng, năm 2022, các địa phương trong tỉnh đề xuất khoảng 100 dự án KĐT, KDC mới và đến năm 2025 khoảng 300 dự án về lĩnh vực này. Với việc vừa sử dụng vốn đầu tư công, vừa thu hút đầu tư ngoài nguồn ngân sách nhà nước, dự kiến năm 2022, toàn tỉnh có hàng nghìn lô đất, căn hộ cung cấp cho thị trường. 

Yên Dũng là địa phương đầu tiên trong tỉnh tổ chức phiên đấu giá đất nền trong năm mới, cho thấy nhiều tín hiệu tích cực của thị trường BĐS tỉnh. Đó là 46 lô đất ở các xã Nội Hoàng, Tiến Dũng và thị trấn Nham Biền đều được trả giá với giá trúng 91 tỷ đồng, chênh lệch so với giá khởi điểm 43 tỷ đồng.

Phiên đấu giá đầu tiên thành công trong năm cho thấy, BĐS vẫn có sức hấp dẫn, thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh quan tâm. Tuy nhiên, để phát triển KĐT, KDC phù hợp với quy hoạch, trước mắt Sở Xây dựng đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án KĐT, KDC mới đang triển khai ngoài nguồn ngân sách. 

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 58 dự án KĐT, KDC mới không sử dụng vốn đầu tư công đã được UBND tỉnh chấp thuận đầu tư và phê duyệt kết quả lựa chọn chủ đầu tư. 

Tổng hợp của Sở Xây dựng, cùng với các huyện Tân Yên, Yên Dũng, năm 2022, các địa phương trong tỉnh đề xuất khoảng 100 dự án KĐT, KDC mới và đến năm 2025 khoảng 300 dự án về lĩnh vực này.

Trong đó 18 dự án đã hoàn thành, cơ bản hoàn thành; 17 dự án đang thi công xây dựng; 13 dự án đang thực hiện giải phóng mặt bằng; 10 dự án đang hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi để trình thẩm định. 

Với các dự án đề xuất mới, Sở tập trung thẩm định chặt chẽ các đồ án quy hoạch chi tiết, thiết kế cơ sở, nghiệm thu các dự án… để hình thành các KDC, KĐT đồng bộ, hiện đại.

Ông Đào Công Hùng, Phó Giám đốc Sở Xây dựng cho biết, việc triển khai KĐT, KDC mới từ nguồn vốn ngoài đầu tư công hiện nay khó khăn nhất vẫn là giải phóng mặt bằng. Do đó, Sở đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo UBND các huyện, TP tập trung đối thoại, gỡ vướng, sớm có mặt bằng sạch cho nhà đầu tư, nhanh chóng đưa dự án vào khai thác. 

Đi đôi với giải pháp trên, Sở Xây dựng cũng dựa trên Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để rà soát lại toàn bộ quy hoạch KĐT, KDC bảo đảm đồng bộ, thống nhất với quy hoạch chung; phối hợp đánh giá rõ thực trạng, tình hình sử dụng đất ở các địa phương để sử dụng hiệu quả quỹ đất ở, tránh lãng phí nguồn lực.