Category Archives: NEWS

Thị trường bất động sản đã qua đáy và chuẩn bị bước vào chu kỳ tăng giá

Ông Nguyễn Văn Đính – Chủ tịch Hội môi giới bất động sản – cho biết, trong hai tháng đầu quý III/2023 đã có 5.000 lượt giao dịch bất động sản. Trong giai đoạn khó khăn đây là con số đáng khích lệ, tạo động lực cho thị trường bất động sản quý IV/2023 và quý I/2024 có cơ hội phục hồi rõ nét hơn.

Triển khai thực hiện điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

BẮC GIANG – UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định triển khai thực hiện điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Kế hoạch nhằm cụ thể hóa trách nhiệm của các sở, ban, ngành, UBND huyện, thành phố trong thực các nội dung công tác điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; bảo đảm thống nhất công tác lãnh đạo, chỉ đạo của UBND tỉnh trong việc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh.

Yêu cầu việc triển khai thực hiện công tác điều chỉnh Quy hoạch tỉnh phải bảo đảm tính thống nhất, rõ ràng, chất lượng, đáp ứng các quy định về thời gian, trình tự, thủ tục lập, thẩm định và trình phê duyệt theo quy định của Luật Quy hoạch.

Nội dung điều chỉnh Quy hoạch tỉnh bao gồm: Điều chỉnh các nội dung Quy hoạch tỉnh bảo đảm phù hợp với Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch ngành quốc gia (toàn bộ các quy hoạch theo Luật Quy hoạch, kể cả Quy hoạch đang lập, yêu cầu phải hoàn thành trước 31/12/2023 theo Nghị quyết số 108 ngày 26/8/2022 của Chính phủ), Quy hoạch vùng thời kỳ 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2050.

Bổ sung phương án sắp xếp đơn vị hành chính tỉnh Bắc Giang đến năm 2030 vào Quy hoạch tỉnh. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các nội dung liên quan đến định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các nội dung khác trong Quy hoạch tỉnh để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, liên kết giữa sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đối với nội dung Quy hoạch tỉnh theo quy định (không điều chỉnh nội dung, dự án trong Quy hoạch tỉnh không liên quan đến sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã).

Sở Kế hoạch và Đầu tư (cơ quan lập điều chỉnh Quy hoạch tỉnh), điều phối toàn bộ hoạt động điều chỉnh Quy hoạch tỉnh; chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về tiến độ, nội dung điều chỉnh quy hoạch. Tham mưu chuẩn bị các nội dung để báo cáo các cấp, các ngành theo Kế hoạch này. Tham mưu xây dựng đề cương (làm cơ sở để cho các sở, ban, ngành, địa phương) báo cáo UBND tỉnh trước ngày 30/9/2023.

Các sở, ban, ngành, UBND huyện, thành phố có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức nghiên cứu, cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, tài liệu, sơ đồ, bản đồ có liên quan phục vụ việc tổ chức xây dựng báo cáo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh. Xây dựng Báo cáo điều chỉnh Quy hoạch ngành; chịu hoàn toàn trách nhiệm về toàn bộ các nội dung điều chỉnh thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành.

Tham gia đầy đủ các cuộc họp, đóng góp ý kiến chuyên môn của cơ quan, đơn vị đối với hồ sơ dự thảo của Báo cáo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh. Chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh về chất lượng và thời gian thực hiện nhiệm vụ được phân công.

Các tổ chức chính trị xã hội và doanh nghiệp, người dân, các chuyên gia, nhà khoa học… là các đối tượng được tham vấn trong quá trình điều chỉnh Quy hoạch tỉnh.

Tăng tốc thi công cầu vượt đường Xương Giang

BẮC GIANG – Những ngày này, trên công trường thi công cầu vượt đường vành đai Đông Bắc qua đường Xương Giang (TP Bắc Giang) luôn có hơn 100 công nhân làm việc, chia làm 3 mũi thi công với 3 ca/ngày để đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành công trình trước kế hoạch đề ra.

  Cầu vượt được khởi công từ tháng 6/2023 do Công ty TNHH Xây dựng Tân Thịnh (TP Bắc Giang) thi công. Chủ đầu tư là Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng TP Bắc Giang. Công trình được xây dựng tại phường Xương Giang với diện tích sử dụng đất khoảng 2,5 ha. Ảnh: Công nhân đang kéo cáp chuẩn bị lắp dầm cầu.

Cầu vượt được khởi công từ tháng 6/2023 do Công ty TNHH Xây dựng Tân Thịnh (TP Bắc Giang) thi công. Chủ đầu tư là Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng TP Bắc Giang. Công trình được xây dựng tại phường Xương Giang với diện tích sử dụng đất khoảng 2,5 ha. Ảnh: Công nhân đang kéo cáp chuẩn bị lắp dầm cầu.

Tổng mức đầu tư của cầu vượt gần 260 tỷ đồng từ nguồn ngân sách TP (bao gồm cả xây lắp, chi trả bồi thường giải phóng mặt bằng và một số chi phí khác).  
Tổng mức đầu tư của cầu vượt gần 260 tỷ đồng từ nguồn ngân sách TP (bao gồm cả xây lắp, chi trả bồi thường giải phóng mặt bằng và một số chi phí khác).
Các hạng mục của công trình gồm: Cầu vượt bê tông cốt thép dự ứng lực với 7 nhịp, chiều dài cầu hơn 290 m, chiều rộng mặt cắt ngang 18 m; chiều rộng mặt đường gom mỗi bên 11,5 m (phần xe chạy mỗi bên khoảng 7,5 m, dải an toàn mỗi bên 0,5 m, hè đường mỗi bên 3,5m). Ảnh: Công nhân thi công trên công trường.  
Các hạng mục của công trình gồm: Cầu vượt bê tông cốt thép dự ứng lực với 7 nhịp, chiều dài cầu hơn 290 m, chiều rộng mặt cắt ngang 18 m; chiều rộng mặt đường gom mỗi bên 11,5 m (phần xe chạy mỗi bên khoảng 7,5 m, dải an toàn mỗi bên 0,5 m, hè đường mỗi bên 3,5m). Ảnh: Công nhân thi công trên công trường.
Công ty TNHH Xây dựng Tân Thịnh huy động nhiều máy móc thi công đường dẫn lên cầu.
Công ty TNHH Xây dựng Tân Thịnh huy động nhiều máy móc thi công đường dẫn lên cầu.
Đến thời điểm này, cầu vượt đã được thi công cơ bản xong các mố cầu, đổ bê tông 28/56 dầm cầu, lắp đặt 16/56 dầm, đạt 70% khối lượng công việc. Công nhân đang tập trung cao hoàn thiện các phần việc còn lại như: Lắp dầm cầu, đổ bê tông dầm cầu, đường dẫn lên cầu, xây dựng hệ thống cống thoát nước..., phấn đấu hoàn thành công trình vào tháng 3/2024, trước kế hoạch 3 tháng. Ảnh: Công nhân hàn, lắp các thanh thép tại trụ cầu. 
Đến thời điểm này, cầu vượt đã được thi công cơ bản xong các mố cầu, đổ bê tông 28/56 dầm cầu, lắp đặt 16/56 dầm, đạt 70% khối lượng công việc. Công nhân đang tập trung cao hoàn thiện các phần việc còn lại như: Lắp dầm cầu, đổ bê tông dầm cầu, đường dẫn lên cầu, xây dựng hệ thống cống thoát nước…, phấn đấu hoàn thành công trình vào tháng 3/2024, trước kế hoạch 3 tháng. Ảnh: Công nhân hàn, lắp các thanh thép tại trụ cầu.
Thi công cống ngang thoát nước tại khu vực đường gom.
Thi công cống ngang thoát nước tại khu vực đường gom.
Công trình hoàn thành đưa vào sử dụng nhằm giảm các xung đột giao thông với đường sắt; mở rộng không gian đô thị, đẩy mạnh phát triển KT-XH, góp phần hoàn thiện quy hoạch chung TP Bắc Giang đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
Công trình hoàn thành đưa vào sử dụng nhằm giảm các xung đột giao thông với đường sắt; mở rộng không gian đô thị, đẩy mạnh phát triển KT-XH, góp phần hoàn thiện quy hoạch chung TP Bắc Giang đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.

Điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị tỉnh Bắc Giang đến năm 2030

BẮC GIANG – UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định về việc phê duyệt điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị tỉnh Bắc Giang đến năm 2030.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Mục tiêu nhằm cụ thể hóa định hướng phát triển hệ thống đô thị trên địa bàn tỉnh Bắc Giang phù hợp với quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia; chương trình phát triển đô thị quốc gia; quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; quy hoạch chung đô thị; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; kế hoạch đầu tư công trung hạn và khả năng huy động nguồn lực thực tế tại địa phương.

Theo đó, tỉnh Bắc Giang đặt mục tiêu đến năm 2025, phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa đạt 58,28%. Tỷ lệ đất xây dựng đô thị trên tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 5 – 7%. Diện tích nhà ở bình quân khu vực đô thị đạt khoảng 29,6 m2 sàn/người. Tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 98,5%. Tỷ lệ đất giao thông so với đất xây dựng đô thị tại đô thị loại II đạt khoảng 15-22%, đô thị loại IV đạt khoảng 12-17%, đô thị loại V đạt khoảng 11-16%. Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng tại đô thị loại II đạt khoảng 10 – 15%, đô thị loại IV đạt khoảng 3 – 5%, đô thị loại V đạt khoảng 1 – 2%.

Tỷ lệ dân số được cấp nước sạch hợp vệ sinh tại đô thị loại II đạt khoảng 95-100%, đô thị loại IV đạt khoảng 90-95%, đô thị loại V đạt khoảng 80-95%. Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt tại đô thị loại II đạt khoảng 135 – 150 lít/người/ngày đêm, đô thị loại IV đạt khoảng 110 – 130 lít/người/ngày đêm, đô thị loại V đạt khoảng 100 – 120 lít/người/ngày đêm.

Tỷ lệ bao phủ của hệ thống thoát nước đạt khoảng 70 – 80% diện tích lưu vực thoát nước trong các đô thị; tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật đối với đô thị loại II là 60% trở lên, đô thị loại IV là 15% trở lên và loại V là 10% trở lên. Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đối với đô thị loại II đạt khoảng 95 – 100%, đô thị loại IV đạt khoảng 90 – 95%, đô thị loại V đạt khoảng 80 – 90%. Tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom và xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường đạt 100%.

Tỷ lệ đường phố chính được chiếu sáng tại đô thị loại II đạt khoảng 95 – 100%, đô thị loại IV đạt khoảng 80 – 90%, đô thị loại V đạt khoảng 75 – 85%. Tỷ lệ ngõ, ngách được chiếu sáng đối với đô thị loại II đạt khoảng 80 – 90%, đô thị loại IV, loại V đạt khoảng 50 – 70%. Diện tích đất cây xanh bình quân trên mỗi người dân đô thị đối với đô thị loại II đạt khoảng 10 – 15m2/người; đô thị loại IV, loại V đạt khoảng 6 – 8 m2/người.

Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa đạt 71,66%. Tỷ lệ đất xây dựng đô thị trên tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 7 – 9%. Diện tích sàn nhà ở bình quân khu vực đô thị đạt khoảng 32,7m2 sàn/người. Tỷ lệ nhà kiên cố đạt 99%. Tỷ lệ đất giao thông so với đất xây dựng đô thị tại đô thị loại I đạt khoảng 20 – 25% trở lên; đô thị từ loại III đến loại V đạt khoảng 16% trở lên. Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng tại đô thị loại I đạt khoảng 15 – 20%; đô thị loại III đạt khoảng 6 – 10%; đô thị loại IV và loại V đạt khoảng 3 – 5%. Tỷ lệ dân số được cấp nước sạch hợp vệ sinh tại đô thị đạt 100%.

Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt tại đô thị đạt từ 120 lít/người/ngày đêm trở lên. Tỷ lệ bao phủ của hệ thống thoát nước đạt 80 – 90% diện tích lưu vực thoát nước trong các đô thị; tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật đối với đô thị loại I là 70% trở lên, đô thị loại III là 20% trở lên, loại IV là 18% trở lên và loại V là 12% trở lên.

Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đối với đô thị loại I đạt khoảng 95 – 100%; đô thị loại III, loại IV đạt khoảng 90 – 95%; đô thị loại V đạt khoảng 80 – 90%. Tỷ lệ chiếu sáng đường phố chính và khu nhà ở, ngõ xóm tại đô thị loại I đạt 100%; các đô thị loại III, loại IV, loại V đạt 90% chiều dài các tuyến đường chính và 85% chiều dài đường khu nhà ở, ngõ xóm được chiếu sáng. Diện tích đất cây xanh bình quân trên mỗi người dân đô thị của TP Bắc Giang đạt trên 19 m2/người, các đô thị loại III, loại IV đạt trên 8 m2/người, các đô thị loại V đạt trên 6 m2/người.

Về lộ trình nâng loại hệ thống đô thị, đến năm 2025, tỉnh Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính với 16 đô thị và 1 khu vực đạt tiêu chí đô thị, trong đó 1 đô thị loại II; 5 đô thị loại IV gồm 2 thị xã (Việt Yên, thị xã Chũ), huyện Hiệp Hòa và 2 thị trấn (Vôi, Đồi Ngô); 11 đô thị loại V gồm 8 thị trấn hiện hữu (An Châu, Tây Yên Tử, Kép, Cao Thượng, Nhã Nam, Phồn Xương, Bố Hạ, Phương Sơn); 2 thị trấn được thành lập mới (Biển Động, Phì Điền) và 1 khu vực Mỏ Trạng đạt tiêu chí đô thị loại V.

Đến năm 2030, tỉnh Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính với 21 đô thị, trong đó 1 đô thị loại I (TP Bắc Giang); 1 đô thị loại III (thành phố Việt Yên); 4 đô thị loại IV gồm 3 thị xã (Hiệp Hòa, Chũ, Lạng Giang) và 1 thị trấn (Đồi Ngô); 15 đô thị loại V gồm 9 thị trấn hiện hữu (An Châu, Tây Yên Tử, Cao Thượng, Nhã Nam, Phồn Xương, Bố Hạ, Phương Sơn, Biển Động, Phì Điền) và 6 thị trấn được thành lập mới (Tân Sơn, Lan Mẫu, Cẩm Lý, Bỉ (Ngọc Thiện), Việt Lập, Mỏ Trạng).

Điều kiện để tách thửa đất giãn dân

Đất giãn dân là chính sách hỗ trợ về đất đai nhà ở của Nhà nước dành cho người dân trong một số trường hợp. Về bản chất, đất giãn dân vẫn là đất ở, do đó vẫn được phép tách thửa khi đảm bảo các điều kiện theo quy định như đối với đất ở.

Điều kiện để tách thửa đất giãn dân
Đất giãn dân được phép tách thửa khi đảm bảo các điều kiện như đối với đất ở.

Đất giãn dân thường được cơ quan có thẩm quyền cấp cho người dân trong các trường hợp: Hộ gia đình có nhiều thành viên mà không đáp ứng được chỗ ở và không có điều kiện để mua đất, mua nhà. Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Hộ gia đình sử dụng đất nằm trong diện bị quy hoạch, giải tỏa…

Như vậy, hiểu một cách đơn giản thì đất giãn dân là chính sách hỗ trợ về đất đai nhà ở của Nhà nước dành cho người dân trong một số trường hợp. Do đó, đất giãn dân thường có giá thành rẻ hơn để phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân so với đất ở thông thường.

Về bản chất, đất giãn dân vẫn là đất ở, do đó vẫn được phép tách thửa khi đảm bảo các điều kiện như đối với đất ở.

Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013, Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và khoản 1 Điều 2 Thông tư 09/2021/TT-BTNMT, để được tách thửa đất cần đáp ứng các điều kiện sau: Có giấy chứng nhận; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; Đất còn thời hạn sử dụng.

Ngoài ra, căn cứ theo quy định Điều 75a Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 23 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP về điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa như sau: “UBND cấp tỉnh căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng và điều kiện cụ thể tại địa phương để quy định cụ thể điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất theo từng loại đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất”.

Theo đó, ngoài những điều kiện nêu trên, để được tách thửa còn phải đáp ứng về điều kiện tách thửa đất tối thiểu tại mỗi địa phương do UBND cấp tỉnh quy định.

Bắc Giang: duyệt Quy hoạch phân khu xây dựng KCN Mỹ Thái

UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch phân khu xây dựng Khu công nghiệp Mỹ Thái, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (tỷ lệ 1/2.000).

Ảnh minh hoạ.
Ảnh minh hoạ.

Theo đó, khu vực nghiên cứu lập quy hoạch thuộc địa giới hành chính của xã Mỹ Thái, thị trấn Vôi và xã Dương Đức, huyện Lạng Giang. Diện tích nghiên cứu lập quy hoạch khoảng 160ha. Ranh giới được giới hạn phía Bắc giáp Khu dân cư và cánh đồng thôn Chi Lễ, thôn Cầu Trong, xã Mỹ Thái;

Phía Nam giáp Khu dân cư các thôn Chi Lễ, Cầu Ngoài, Cầu Trong, xã Mỹ Thái; phía Đông giáp cánh đồng thôn Thượng, xã Mỹ Thái và Tổ dân phố Hoành Sơn, thị trấn Vôi; phía Tây giáp Khu dân cư thôn Đức Thọ và đê Dương Đức xã Dương Đức.

Về tính chất, KCN Mỹ Thái là KCN tập trung, đa ngành, có hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và hiện đại, tiên tiến, thân thiện môi trường.

Đồ án quy hoạch phân khu xây dựng phải phù hợp với các đồ án quy hoạch đã được phê duyệt, các tiêu chuẩn, quy chuẩn và hiện trạng khu vực nghiên cứu; Tuân thủ những quy định về bảo vệ hành lang an toàn của các công trình hạ tầng kỹ thuật đi qua khu vực; Phân tích, đánh giá nhu cầu, mô hình phát triển dịch vụ cho khu vực; Khai thác triệt để điều kiện địa hình tự nhiên để tạo ra không gian hợp lý trong khu vực.

Các hạng mục đầu tư xây dựng gồm, công trình hạ tầng kỹ thuật: đường giao thông nội bộ, bãi đỗ xe, cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng, thông tin liên lạc, ga rác, trạm xử lý nước thải…; Công trình: văn phòng, thương mại dịch vụ, nhà xưởng sản xuất…

Trải nghiệm “Mùa trăng hạnh phúc” tại Evergreen Bắc Giang

Chương trình “Mùa trăng hạnh phúc” tại dự án Evergreen Bắc Giang sẽ là địa điểm phù hợp cho những ai đang tìm kiếm một địa điểm ngắm trăng vừa lãng mạn vừa rộn ràng với nhiều hoạt động trải nghiệm cùng các trò chơi dân gian.

Trải nghiệm Mùa trăng hạnh phúc tại Evergreen Bắc Giang - 1
Sự kiện mang đến sân chơi đậm chất văn hóa truyền thống (Ảnh: Evergreen Bắc Giang).

Trung thu là thời điểm để sum họp, để tận hưởng những giây phút đáng nhớ bên gia đình và người thân. Một căn nhà ấm áp nơi các thành viên cùng nhâm nhi tách trà ấm nóng trong không khí đoàn viên là bức tranh an lành và là mơ ước của rất nhiều gia đình.

Cùng với sự phát triển của xã hội, các dự án nhà ở xã hội đang dần trở thành một phần quan trọng trong thị trường nhà ở tại Việt Nam, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống, hiện thực hóa ước mơ sở hữu nhà ở của rất nhiều người, nhất là người lao động thu nhập thấp. Đó không chỉ là những mái ấm vững chắc mà còn là nơi kết nối và yêu thương, kiến tạo những cộng đồng sống văn minh, hiện đại.

Trải nghiệm Mùa trăng hạnh phúc tại Evergreen Bắc Giang - 2
Evergreen Bắc Giang được kiến tạo với mục đích mang đến những “Tổ ấm an vui – sum vầy hạnh phúc” (Ảnh: Evergreen Bắc Giang).

Chương trình “Mùa trăng hạnh phúc” là món quà mà chủ đầu tư dự án Nhà ở xã hội Evergreen Bắc Giang dành tặng cho khách hàng và người dân trong khu vực. Chương trình được mở cửa tự do trong suốt hai ngày 27 và 28/9 (tức ngày 13 và 14/8 âm lịch) nhằm mang đến cho người dân tại đây những trải nghiệm thiết thực về một khu đô thị mới chuẩn bị được hình thành, sống động và đầy tiềm năng trong tương lai.

Điểm nhấn của chương trình năm nay là con đường đèn lồng dài nhất Bắc Giang. Nằm ngay trong Khu đô thị mới Thị trấn Nếnh, Việt Yên, TP Bắc Giang, khuôn viên khu đô thị được chủ đầu tư tái hiện một con đường đèn lồng cổ điển, rộng hàng chục mét, chạy dài từ cổng dự án vào khu căn hộ, với những chiếc đèn trung thu truyền thống, đa dạng và lấp lánh. Đây sẽ là một địa điểm check-in mà khách tham dự không nên bỏ lỡ trong dịp Trung thu này.

Trải nghiệm Mùa trăng hạnh phúc tại Evergreen Bắc Giang - 3
Món quà tinh thần ý nghĩa dịp Trung Thu cùng thông điệp hạnh phúc gửi đến mọi người (Ảnh: Evergreen Bắc Giang).

Dưới ánh đèn đêm lấp lánh, con đường đèn lồng dự kiến trở thành một không gian đẹp mắt. Khách tham dự có thể tới đây để thưởng thức cảnh đẹp, chụp ảnh và lưu giữ những kỷ niệm đáng nhớ của mùa Trung thu năm nay. Địa điểm này còn có các hoạt động workshop để du khách trải nghiệm, thỏa sức sáng tạo với các hoạt động phong phú như làm đèn lồng, tô tượng, vẽ tranh cát, nặn tò he,…

Trải nghiệm Mùa trăng hạnh phúc tại Evergreen Bắc Giang - 4
Hòa mình vào không gian Trung thu huyền ảo và đầy màu sắc (Ảnh: Evergreen Bắc Giang).

Các em nhỏ còn được tham gia vui chơi tại khu vực trò chơi dân gian truyền thống như nhảy dây, nhảy lò cò, bịt mắt bắt dê, chơi ô ăn quan, gặp gỡ và vui chơi cùng các nhân vật hài hước như chú hề vặn bóng, chị Hằng và chú Cuội. Sự gần gũi và hài hước của các nhân vật cổ tích sẽ mang đến không khí Trung thu rộn ràng, đầy ắp tiếng cười.

“Chúng tôi đã chuẩn bị nhiều góc check-in độc đáo cùng các gian hàng ẩm thực đa dạng, mang đậm chất Trung thu, hứa hẹn sẽ mang đến cho gia đình và các bạn nhỏ một mùa Trung thu tràn đầy niềm vui và ý nghĩa”, đại diện chủ đầu tư cho biết.

Bỏ yêu cầu chủ đầu tư phải dành 20% quỹ đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội

Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) đã bỏ quy định yêu cầu bắt buộc chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị phải dành 20% quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội.

 

Bộ Xây dựng vừa có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Thái Nguyên gửi tới Quốc hội sau kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV về việc các dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có quy mô sử dụng đất từ 2 ha trở lên tại các đô thị loại đặc biệt và loại I hoặc từ 5 ha trở lên tại các đô thị loại II và loại III phải dành 20% tổng diện tích đất ở trong các đồ án quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật dành để xây dựng nhà ở xã hội.

Bỏ yêu cầu chủ đầu tư phải dành 20% quỹ đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội - Ảnh 1.

Một dự án nhà ở xã hội tại TP Thủ Đức, TP HCM. Ảnh minh họa: TẤN THẠNH

Theo cử tri, căn cứ quy định này, khi lập quy hoạch chi tiết một số dự án trên địa bàn, địa phương phải bố trí quỹ đất dành để xây dựng nhà ở xã hội. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế cho thấy nhu cầu về nhà ở xã hội của người dân khu vực thành phố (thuộc tỉnh) còn thấp, một bộ phận người dân không có điều kiện để mua hoặc thuê nhà ở xã hội dẫn đến lãng phí đất đai, khó khăn trong công tác quản lý quỹ đất đã bố trí để xây dựng nhà ở xã hội.

Vì vậy cử tri đề nghị nghiên cứu trình Chính phủ sửa đổi nội dung tại Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1-4-2021 theo hướng linh hoạt trong việc bố trí quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội phù hợp với tình hình thực tế ở các địa phương.

Về vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết thời gian qua, Bộ Xây dựng đã nghiên cứu, đánh giá một số tồn tại, bất cập trong việc thực hiện các chính sách phát triển nhà ở xã hội, trong đó có quy định về việc dành quỹ đất 20% để phát triển nhà ở xã hội theo Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20-10-2015 của Chính phủ, làm cơ sở nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, nhằm khắc phục một số tồn tại, bất cập của quy định này.

Tuy nhiên, bên cạnh những tồn tại, vướng mắc trong quy định đã được sửa đổi, bổ sung trong Nghị định thuộc thẩm quyền của Chính phủ thì để khắc phục triệt để những vướng mắc, bất cập nêu trên còn cần phải sửa đổi Luật Nhà ở (thuộc thẩm quyền của Quốc hội).

 

Hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) đã được Chính phủ trình Quốc hội khóa XV cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5 và dự kiến thông qua tại Kỳ họp thứ 6.

Theo đó, tại Điều 80 dự thảo Luật Luật Nhà ở (sửa đổi) quy định về đất để xây dựng nhà ở xã hội đã quy định theo hướng bỏ quy định yêu cầu bắt buộc chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị phải dành 20% quỹ đất để đầu tư xây dựng; bổ sung quy định việc bố trí quỹ đất phát triển nhà ở xã hội là trách nhiệm của UBND cấp tỉnh.

Cụ thể, khi lập, phê duyệt quy hoạch tỉnh, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, UBND cấp tỉnh phải bố trí đủ quỹ đất dành để phát triển nhà ở xã hội theo Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt

Bắc Giang nằm trong nhóm 5 địa phương có tỷ trọng kinh tế số trên GRDP đạt hơn 20%

Theo báo cáo thường niên kinh tế số Việt Nam 2022, 5 địa phương có tỷ trọng kinh tế số trên GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn) đạt hơn 20% là Bắc Ninh, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hải Phòng và Vĩnh Phúc.

Một doanh nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Một doanh nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

Trong phát biểu tại Diễn đàn quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ nhất vừa được tổ chức tại Nam Định, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh biểu dương và đánh giá cao nỗ lực, quyết tâm và kết quả đạt được của các cấp, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân thời gian qua, đã góp phần quan trọng vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số tại Việt Nam.

Tuy nhiên, lãnh đạo Ban Kinh tế Trung ương cũng chỉ rõ, thực tiễn phát triển kinh tế số, xã hội số vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Cụ thể như, số lượng nền tảng số quốc gia được triển khai rộng rãi chưa nhiều. Nhân lực cho chuyển đổi số còn chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng, chất lượng, phân bổ chưa đồng đều.

Những vấn đề về mặt pháp lý, an toàn, an ninh mạng và việc bảo đảm quyền riêng tư của người dùng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro; nhận thức, thói quen của người dân còn chưa “thực sự sẵn sàng” cho nền kinh tế số; hay việc ban hành khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới hình thành từ xu thế cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn chậm…

Theo báo cáo của Vụ Kinh tế số và xã hội số, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), trong 17 mục tiêu đến năm 2025 được đề ra tại Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số, tính đến tháng 6, đã có 2 mục tiêu hoàn thành, đạt 11,8%; 15 mục tiêu đang thực hiện, đạt 88,2%, trong đó 2 mục tiêu có khả năng hoàn thành đến 2024, 6 mục tiêu có khả năng hoàn thành đến 2025 và 7 mục tiêu còn thách thức, nguyên nhân chủ yếu là chưa có số liệu thống kê chính thức, cần sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương kịp thời nghiên cứu phương pháp thống kê, đo lường.

Về các nhiệm vụ, Chiến lược quốc gia giao cho các bộ, ngành, địa phương 114 nhiệm vụ đến năm 2025. Đến nay, 20 nhiệm vụ đã hoàn thành, đạt 17,5%; 94 nhiệm vụ chưa hoàn thành, tương ứng 82,5%.

Đáng chú ý, trong khuôn khổ diễn đàn, Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và xã hội số Trần Minh Tuấn đã giới thiệu một số kết quả của Báo cáo thường niên kinh tế số Việt Nam 2022. Báo cáo do Ban Kinh tế Trung ương và Bộ TT&TT đồng bảo trợ, với sự tham gia của Vụ Kinh tế tổng hợp, Vụ Công nghiệp của Ban Kinh tế Trung ương; Học Viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT), Viện Công nghiệp phần mềm và nội dung số Việt Nam, Vụ Kinh tế số và xã hội số thuộc Bộ TT&TT.

Theo kết quả của nhóm nghiên cứu, ước tính sơ bộ tỷ trọng kinh tế số trên GDP của cả nước năm 2021 là 11,91% và năm 2022 là 14,26%. Trong đó, kinh tế số ICT vẫn là trụ cột với tỷ trọng đóng góp khoảng hơn 9% GDP và tác động lan tỏa của công nghệ số, ICT đóng góp vào các ngành, lĩnh vực khác là 5% (như vậy tỷ lệ cơ cấu kinh tế số ICT trên kinh tế ngành lĩnh vực đang khoảng 70:30), 70% cho kinh tế số ICT.

“Việt Nam đặt mục tiêu tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành lĩnh vực đạt 10% vào năm 2025 và 20% vào năm 2030, nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế ngành, lĩnh vực phải đạt khoảng 30-40%/năm và cơ cấu tỷ trọng sẽ là 30% kinh tế số ICT và 70% kinh tế ngành và lĩnh vực”, ông Trần Minh Tuấn thông tin.

Xét ở cấp độ tỉnh, thành phố, nhóm nghiên cứu cũng ước tính được sơ bộ tỷ trọng kinh tế số trên GRDP của 63 địa phương. Trong đó có 5 địa phương có tỷ trọng trên 20%; 13 địa phương có tỷ trọng từ 10 – 20%; 43 địa phương có tỷ trọng từ 5 – 10%; chỉ 2 địa phương có tỷ trọng dưới 5%.

Thống kê cũng cho thấy, có sự chênh lệch lớn giữa nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu và nhóm các tỉnh, thành phố ở cuối bảng xếp hạng.

Tỉnh cao nhất là Bắc Ninh, có tỷ trọng kinh tế số trên GRDP đạt 56,83%, trong khi tỷ lệ này của Quảng Ngãi là 4,21%, chênh lệch hơn 13 lần.

Tỷ trọng kinh tế số trên GRDP cao nhất hiện nay thuộc về các tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hải Phòng, Vĩnh Phúc. Đây cũng là nhóm 5 tỉnh dẫn đầu về kinh tế số ICT với thế mạnh từ việc sản xuất thiết bị điện tử, công nghệ lớn. “Cần lưu ý rằng 4/5 tỉnh, thành phố thuộc nhóm này nằm trong nhóm 10 địa phương thu hút dòng vốn FDI nhiều nhất cả nước”, Vụ Kinh tế số và xã hội số nêu.

Đối với sự lan tỏa công nghệ số, ICT trong các ngành, hoạt động kinh tế khác, Báo cáo thường niên kinh tế số Việt Nam 2022 cho thấy, 5 tỉnh, thành phố dẫn đầu về mức độ lan tỏa ICT là Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh (HCM), Lạng Sơn, Phú Thọ, Thừa Thiên Huế; còn 5 địa phương ghi nhận mức độ lan tỏa ICT thấp nhất gồm có Bạc Liêu, Quảng Ngãi, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bình Thuận.

Mức độ ứng dụng công nghệ số tăng trưởng mạnh nhất thuộc về nhóm các lĩnh vực dịch vụ, bao gồm: Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ (khoảng 19%); y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (16%); hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội, quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng, đảm bảo xã hội bắt buộc (14%); GD&ĐT (13)… Nhóm các ngành, lĩnh vực có mức độ lan tỏa ICT thấp nhất là khai khoáng; xây dựng; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải…

Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc các địa phương gặp phải trong hơn 1 năm triển khai Chiến lược quốc gia, Vụ Kinh tế số và xã hội số cho biết: Bộ TT&TT đã phát triển một công cụ hỗ trợ công tác tổng hợp, giám sát tình hình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế số, kết nối tới các tỉnh, thành phố, tới mạng lưới chuyên gia tư vấn kinh tế số. Dự kiến, vào tháng 11/2023 Bộ TT&TT sẽ cung cấp công cụ này cho các địa phương.

Bên cạnh đó, để tận dụng nguồn lực nhằm mang lại kết quả lớn nhất về kinh tế số, Bộ TT&TT xác định 5 lĩnh vực chính cần tập trung thúc đẩy là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành dệt may; ngành logistics, ngành nông nghiệp và ngành du lịch.

Đô thị Bắc Giang “thay áo mới”

BẮC GIANG – Nhờ thực hiện chiến lược mang tính đột phá trong phát triển đô thị, vài năm trở lại đây, diện mạo đô thị Bắc Giang như “thay áo mới”; cảnh quan, kiến trúc ngày càng mở rộng theo hướng đồng bộ, hiện đại; chất lượng sống của người dân đô thị từng bước được nâng lên.

Quy hoạch đồng bộ, hiện đại

Khoảng 5 năm về trước, so với nhiều địa phương khác trong cả nước, Bắc Giang có tốc độ đô thị hóa chậm, không gian phát triển đô thị chủ yếu quy mô nhỏ thì nay có sự thay đổi vượt bậc. Mạng lưới đô thị phát triển theo hướng bền vững với tầm nhìn dài hạn, không gian phát triển thay đổi từ “quy mô xã” sang “quy mô toàn huyện” và từng bước hoàn thiện, gắn với việc sắp xếp địa giới hành chính tạo tiền đề hình thành một số đô thị lớn có sức lan tỏa; dẫn dắt sự phát triển của tiểu vùng theo đúng định hướng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đề ra.

Một góc Khu đô thị mới phía Đông, thị trấn Vôi (Lạng Giang).
Một góc Khu đô thị mới phía Đông, thị trấn Vôi (Lạng Giang).

Đến nay, tỷ lệ dân số đô thị Bắc Giang đạt gần 24%, diện tích đô thị sau sắp xếp, mở rộng và thành lập mới là hơn 337 km2, tăng hơn 2,5 lần so với năm 2016. Toàn tỉnh hiện có 17 đô thị, gồm 1 đô thị loại II, còn lại là đô thị loại IV và V; trong số này có 2 đô thị loại V là Phương Sơn, Bắc Lý được thành lập mới. Theo ông Vũ Danh Tuyên, Trưởng Phòng Quy hoạch kiến trúc (Sở Xây dựng), quy mô đô thị tới đây tiếp tục được mở rộng, tốc độ đô thị hóa phát triển mạnh theo hướng đồng bộ, hiện đại hơn.

Đến nay, tỷ lệ dân số đô thị Bắc Giang đạt gần 24%, diện tích đô thị sau sắp xếp, mở rộng và thành lập mới là hơn 337 km2, tăng hơn 2,5 lần so với năm 2016. Toàn tỉnh hiện có 17 đô thị, gồm 1 đô thị loại II, còn lại là đô thị loại IV và V; trong số này có 2 đô thị loại V là Phương Sơn, Bắc Lý được thành lập mới.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận chủ trương cho phép Bắc Giang lập, điều chỉnh 5 đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị gồm: TP Bắc Giang mở rộng; các đô thị: Hiệp Hòa, Chũ, Việt Yên và Lạng Giang. Đến nay, đô thị TP Bắc Giang, Việt Yên, Chũ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch, đang hoàn thiện đồ án sau khi thông qua các cấp tại địa phương. UBND tỉnh phê duyệt 5 đồ án quy hoạch chung đô thị đối với các khu vực dự kiến thành lập thị trấn theo lộ trình đến năm 2040, gồm: Cẩm Lý, Lan Mẫu (Lục Nam); Việt Lập, Ngọc Thiện (Tân Yên) và Biển Động (Lục Ngạn).

Bên cạnh đó, tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết của tỉnh được nâng cao và hiện đạt cao hơn mức trung bình toàn quốc: Tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung đô thị toàn tỉnh đạt 100%; quy hoạch phân khu trên địa bàn TP Bắc Giang đạt 100%, tỷ lệ phủ kín quy hoạch chi tiết xây dựng khoảng 80%; các đô thị còn lại đạt khoảng 40%. Công tác quản lý quy hoạch chặt chẽ hơn và dần vào nền nếp.

Các đồ án quy hoạch được duyệt, công bố công khai trên trang thông tin điện tử của tỉnh và các sở, ngành, UBND các huyện, TP để người dân và doanh nghiệp tiếp cận thông tin quy hoạch. Theo đó, qua nửa nhiệm kỳ thực hiện nhiệm vụ về phát triển đô thị theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX của Đảng bộ tỉnh, toàn tỉnh đã thu hút được 147 dự án khu đô thị (KĐT), khu dân cư với tổng diện tích khoảng 2,2 nghìn ha, tổng mức đầu tư khoảng 33 nghìn tỷ đồng.

Hạ tầng đô thị phát triển mạnh, nhiều điểm nhấn

Cùng với quy hoạch, các dự án hạ tầng khung và công trình hạ tầng xã hội của đô thị, liên kết các đô thị trên địa bàn tỉnh được quan tâm đầu tư. Tính riêng giai đoạn 2021-2025, tổng nguồn vốn đầu tư công của tỉnh cho hạ tầng khung kết nối đô thị là hơn 40 nghìn tỷ đồng. Hiện hệ thống giao thông kết nối Bắc Giang với các tỉnh lân cận như Thái Nguyên, Hải Dương, Lạng Sơn, Bắc Ninh; giao thông kết nối giữa các địa phương, đô thị nội tỉnh đang được xây dựng, nhiều dự án đã hoàn thành, tạo nên những điểm nhấn mới.

Thay đổi rõ nhất là TP Bắc Giang với một loạt các dự án như: Cải tạo, mở rộng cầu vượt đường Hùng Vương; xây dựng cầu Á Lữ; nâng cấp đường Nguyễn Văn Cừ; xây dựng cầu vượt đường Xương Giang nối với đường Nguyễn Thị Minh Khai – Trần Quang Khải… hoàn thành đưa vào sử dụng. Diện mạo đô thị lõi Bắc Giang như được “thay áo mới”.

Các KĐT mới, nhà ở, hệ thống y tế, giáo dục cũng từng bước hình thành làm thay đổi không gian, cảnh quan đô thị. Nổi bật, tạo điểm nhấn, đường nét đô thị mới là khu Trung tâm Hành chính tỉnh, KĐT phía Nam, chung cư Diamond Hill thuộc khu dân cư số 2, Nhà ở thương mại cạnh công viên Ngô Gia Tự (TP Bắc Giang); các KĐT phía Tây, Đông, thị trấn Vôi (Lạng Giang); khu dân cư mới phía Đông Bắc, thị trấn Bích Động, các toà nhà ở xã hội thị trấn Nếnh (huyện Việt Yên); KĐT phía Nam, thị trấn Thắng (Hiệp Hòa)…

Phát triển đô thị xanh – thông minh, giàu bản sắc

Công tác quy hoạch, quản lý và phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh thời gian qua đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH và các ngành công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn. Điều đó cho thấy, các nghị quyết, kế hoạch của tỉnh về phát triển đô thị được ban hành đã đánh giá, dự báo chính xác tình hình, hạn chế, bất cập, đưa ra nhiệm vụ, giải pháp thực hiện hiệu quả các chỉ tiêu đề ra.

Giai đoạn 2023-2025 là thời điểm then chốt để thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đề ra là: Tỷ lệ đô thị hóa đạt hơn 32,4% vào năm 2025, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chương trình, đề án, kế hoạch phát triển đô thị; đồng thời yêu cầu các đơn vị, địa phương tập trung giành mọi nguồn lực, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị.

Quá trình thực hiện, chú trọng công tác quy hoạch, bảo đảm phát triển đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại, bền vững, lấy con người và chất lượng cuộc sống làm trung tâm. Quan tâm phát triển đô thị gắn với chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số tiến tới phát triển đô thị thông minh, nâng cao chất lượng phục vụ người dân.

Ông Nguyễn Văn Nghĩa, Phó Giám đốc Sở Xây dựng cho biết: “Phát huy kết quả đạt được, đơn vị tiếp tục tham mưu UBND tỉnh ban hành các đề án, chương trình, kế hoạch về phát triển đô thị; phối hợp với các sở, ngành liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị; phấn đấu hoàn thành sớm các mục tiêu quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050”.