Category Archives: NEWS

Bất động sản công nghiệp xuất hiện các thương vụ đầu tư hàng trăm tỉ USD, “lộ diện” khu vực dẫn đầu

Bất động sản công nghiệp xuất hiện các thương vụ đầu tư hàng trăm tỉ USD, “lộ diện” khu vực dẫn đầu

Về các quốc gia có mức đầu tư vào Việt Nam lớn nhất, có thể kể đến Singapore với 25% tổng vốn đầu tư trị giá 1,4 tỷ USD. Trung Quốc có tổng vốn đầu tư lớn thứ hai, chiếm 23% vốn đầu tư và sau đó là Hong Kong ở mức 12%.

 

Trong báo cáo tiêu điểm bất động sản công nghiệp Việt Nam mới đây, đại diện Savills Việt Nam đã chỉ ra những thương vụ đầu tư bất động sản công nghiệp lớn nhất nước, giá trị hàng tỉ đô la.

Theo Savills, sau nửa đầu năm đầy biến động, Việt Nam cho thấy sự tăng trưởng ổn định nhờ các động lực chính của thị trường. Trong đó, lực lượng lao động trẻ và năng động, chi phí lao động cạnh tranh, nền kinh tế định hướng xuất khẩu, môi trường kinh doanh ổn định, vị trí địa lý, và sự tham gia tích cực của Việt Nam vào các Hiệp định Thương mại tự do là những nhân tố chính.

Về thương mại xuất nhập khẩu, ông John Campbell, Phó Giám đốc, Trưởng Bộ phận Dịch vụ Công Nghiệp, Savills Việt Nam nhận định, từ năm 2016 đến 2022, kim ngạch xuất khẩu điện tử, máy tính tăng 193% và kim ngạch xuất khẩu điện thoại tăng 68%. Điều này phản ánh việc Việt Nam đang tiến tới chuỗi giá trị với tư cách là nền kinh tế định hướng xuất khẩu đối với các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Về đầu tư vào sản xuất, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực sản xuất và chế biến ghi nhận đạt 8,4 tỷ USD, chiếm 63% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong 6 tháng đầu năm 2023. 379 dự án mới có vốn đăng ký cấp mới là 5,4 tỷ USD. Trong số 345 dự án hiện hữu, có 225 dự án tăng vốn với tổng vốn tăng thêm là 2,1 tỷ USD.

Bất động sản công nghiệp xuất hiện các thương vụ đầu tư hàng trăm tỉ USD, “lộ diện” khu vực dẫn đầu - Ảnh 1.

Ông John Campbell, Phó Giám đốc, Trưởng Bộ phận Dịch vụ Công Nghiệp, Savills Việt Nam.

Về các quốc gia có mức đầu tư vào Việt Nam lớn nhất, có thể kể đến Singapore với 25% tổng vốn đầu tư trị giá 1,4 tỷ USD. Trung Quốc có tổng vốn đầu tư lớn thứ hai, chiếm 23% vốn đầu tư và sau đó là Hong Kong ở mức 12%.

Tại Việt Nam, miền Bắc thu hút đầu tư lớn nhất với 3,4 tỷ USD tương đương 63% dự án FDI sản xuất đăng ký mới. Trong khi đó, miền Nam đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đạt 1,4 tỷ USD hay 27% dự án. Về số dự án, Miền Bắc cũng giữ vị trí đầu tiên với 238 dự án mới, miền Nam ghi nhận 122 dự án và 19 dự án tại Miền Trung.

Xét về các tỉnh, Bắc Giang là tỉnh ghi nhận lượng vốn FDI đăng ký mới trong sản xuất lớn nhất cả nước với 1,06 tỷ USD , tương đương 20% lượng vốn đầu tư. Tiếp theo là Bình Phước với 11% tổng vốn đăng ký trị giá 577 triệu USD và Bắc Ninh đứng thứ ba với 9% tổng vốn đăng ký trị giá 486 triệu USD.

Một số dự án đầu tư lớn trong nửa đầu năm 2023 ở khu vực phía Bắc là dự án của Fulian Precision Technology, với vốn đầu tư 621 triệu USD tại Bắc Giang, dự án 280 triệu USD của Goerteck (Hong Kong) Co. tại Bắc Ninh và dự án 165 triệu USD của Boltun Corp & QST International Corp tại Quảng Ninh.

Ở phía Nam, các dự án nổi bật có thể kể đến như dự án của Shandong Haohua Tire trị giá 500 triệu USD tại Bình Phước, dự án 185 triệu USD của Suntory Pepsico Việt Nam tại Long An và dự án 163 triệu USD tại Bình Dương của Pandora Production Holdings A/S.

Theo Savills, sản xuất công nghiệp của Việt Nam tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước trong tháng 8 năm 2023, tăng từ mức tăng 2,3% của một tháng trước đó, đánh dấu tháng tăng trưởng sản lượng công nghiệp thứ tư liên tiếp và có tốc độ tăng nhanh nhất. Sản lượng tăng thêm 3,5%, tăng từ mức 2,9% trong tháng 7.

 

Năm 2023, có 397 khu công nghiệp (KCN) được thành lập với tổng diện tích đất là 122.900 ha. Trong đó, 292 KCN đang hoạt động với tổng diện tích đất hơn 87.100 ha. 106 KCN khác đang được xây dựng với tổng diện tích đất 35.700 ha.

Các KCN trên toàn quốc có tỷ lệ lấp đầy cao trên 80%, trong đó các tỉnh trọng điểm phía Bắc đạt 83% và các tỉnh trọng điểm phía Nam đạt 91%.

Khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc ghi nhận 68 dự án KCN với diện tích đất cho thuê đạt 12.000 ha. Giá đất cho thuê tăng ở mức 30% theo năm, đạt trung bình 138 USD/m2/chu kỳ thuê. Khách thuê tại khu vực này chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực điện tử và máy tính, sản xuất lắp ráp ô-tô, máy móc và thiết bị cũng như các cấu kiện liên quan tới năng lượng mặt trời. Một số doanh nghiệp nổi bật có hoạt động tại phía Bắc bao gồm Samsung, LG Electronics, Canon, Hyundai, Honda và Vinfast.

Khu kinh tế phía Bắc có mạng lưới đường bộ phát triển, tăng cường kết nối giữa Hà Nội và các tỉnh công nghiệp trọng điểm như Bắc Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh. Khu vực này đồng thời ba cảng chính là Cảng Hải Phòng, Cảng nước sâu Lạch Huyện và Cảng Cái Lân, giúp tạo ra các liên kết thuận lợi tới các thị trường quốc tế như Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan, từ đó củng cố khả năng cạnh tranh công nghiệp của vùng.

Bất động sản công nghiệp xuất hiện các thương vụ đầu tư hàng trăm tỉ USD, “lộ diện” khu vực dẫn đầu - Ảnh 2.

Trong khi đó, khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam ghi nhận 122 dự án KCN với diện tích đất cho thuê đạt 24.883 ha. Giá cho thuê đất tăng 15% theo năm và đạt mức trung bình tại 174 USD/m2/chu kỳ thuê. Khách thuê chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực chế biến thực phẩm và nước giải khát, vật liệu xây dựng, dệt may và sản phẩm cao su và nhựa. Một số khách thuê nổi bật có thể kể đến LEGO, Suntory PepsiCo, Intel, Unilever, Coca-Cola và Kumho Tires.

Về hạ tầng, Khu kinh tế phía Nam hiện chờ đợi dự án Vành đai 3 (dự kiến hoàn thành vào năm 2026), Vành đai 4 (dự kiến hoàn thành vào năm 2028) và cao tốc Bến Lức – Long Thành (dự kiến hoàn thành vào năm 2025). Ngày 31 tháng 8 năm 2023, ba gói thầu chính tại Sân bay Quốc tế Long Thành ở Đồng Nai và Nhà ga số 3 Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất ở TP.HCM đã được khởi công. Sân bay quốc tế Long Thành sẽ có 3 giai đoạn với diện tích 5.580

Ông John Campbell, Phó Giám đốc, Trưởng Bộ phận Dịch vụ Công Nghiệp Savills Việt Nam, bất chấp những khó khăn toàn cầu, Việt Nam dự kiến duy trì mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong trung hạn khi xuất khẩu phục hồi; đồng thời, sẽ tiếp tục được hưởng lợi từ sự chuyển dịch trong chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu sang các trung tâm sản xuất cạnh tranh ở Đông Nam Á.

Năm 2022 và 2023 đã chứng kiến những cột mốc quan trọng cho sự tăng trưởng của ngành công nghiệp tại đồng Bằng Sông Cửu Long. Vào tháng 9/2023, chủ đầu tư VSSIP đã khởi công dự án đầu tiên tại Cần Thơ với diện tích 900ha, dự kiến sẽ là khu phức hợp của trung tâm công nghiệp, công nghệ cao, dịch vụ và dân cư. Giai đoạn 1 sẽ có diện tích 293,7 ha, vốn đầu tư hơn 152 triệu USD. VSIP cũng đầu tư xây dựng tuyến đường trị giá 7,4 triệu USD nối dự án với Quốc lộ 80 trong giai đoạn chuẩn bị thi công. Về hạ tầng, theo Quy hoạch phát triển giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Đồng Bằng Sông Cửu Long được dự kiến sẽ phát triển thêm về cơ sở hạ tầng, nền tảng tạo sức hút cho bất động sản công nghiệp với 6 tuyến cao tốc dài 1.166 km.

Tuy nhiên, ông John Campbell cũng chỉ ra một số thách thức nhất định của bất động sản Công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.

Thứ nhất, chất lượng đảm bảo thông suốt của tất cả cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực. Mặc dù cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đang mở rộng nhanh chóng nhưng sự phát triển vẫn chưa đáp ứng được tốc độ tăng trưởng kinh tế và xã hội. Sự tăng trưởng nhanh chóng về dân số đô thị và vận tải hàng hóa là động lực chính cho nhu cầu cơ sở hạ tầng, trong khi năng lực của cảng và cảng biển chưa phát huy hết tiềm năng.

Thứ hai, khi trọng tâm của Việt Nam chuyển sang thu hút các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao và tăng năng suất để ngang bằng với các nước trong khu vực, nhu cầu về lao động có tay nghề sẽ tăng lên. Mặc dù chi phí lao động ở Việt Nam chỉ bằng 1/3 so với Trung Quốc nhưng năng suất cũng thấp hơn ở mức tương đương.

Thứ ba, Ccác quy định mới về chữa cháy nghiêm ngặt được áp dụng vào cuối năm 2022, điều này đã gây trở ngại cho các nhà phát triển công nghiệp, nhà sản xuất và các công ty dịch vụ hậu cần. Các nhà đầu tư nước ngoài chủ lực đang gặp khó khăn trong việc có được các chứng chỉ phù hợp và một số dự án đã bị trì hoãn vì vấn đề này.

Phó Thống đốc Đào Minh Tú: NHNN tiếp tục điều hành lãi suất theo hướng giảm dần, sẽ có giải pháp gỡ tháo gỡ khó khăn cho các Tập đoàn lớn, bao gồm cả bất động sản

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phó Thống đốc cho biết, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất theo hướng giảm dần, chỉ đạo các NHTM tiết kiệm chi phí, bằng mọi nguồn lực chia sẻ khó khăn giảm lãi suất cho doanh nghiệp.

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, thời gian qua kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm, sản xuất, thương mại toàn cầu khó khăn. Lạm phát hạ nhiệt nhưng vẫn còn cao, giá hàng hóa thế giới biến động khó lường do tác động từ diễn biến địa chính trị phức tạp, thời tiết khắc nghiệt. Đồng USD trên thị trường quốc tế biến động với biên độ lớn. Các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát, trong khi một số ngân hàng trung ương châu Á giảm lãi suất hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc do kinh tế suy yếu và mong muốn phục hồi nhanh tăng trưởng kinh tế.

Ở trong nước, tăng trưởng kinh tế ở mức thấp, xuất khẩu bị thu hẹp, các ngành sản xuất nói chung vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng từ cầu thế giới, kể cả cầu đầu tư và cầu tiêu dùng giảm; thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, trái phiếu… cũng gặp nhiều khó khăn.

Tất cả những diễn biến này đã ảnh hưởng không thuận lợi đến sự phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, khiến cho các doanh nghiệp tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức sau đại dịch COVID-19, làm giảm khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cấp, các ngành đã quyết liệt ban hành nhiều chủ trương, cơ chế chính sách đồng bộ để gỡ khó và đồng hành cùng doanh nghiệp.

Thực hiện chủ trương của Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và ngành Ngân hàng cũng đã quyết tâm, nỗ lực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, tăng khả năng hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh tế, như:

Thứ nhất, từ đầu năm đến nay, NHNN điều hành CSTT theo xu hướng nới lỏng từng bước phù hợp với yêu cầu kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô bằng việc 4 lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành với mức giảm 0,5-2,0%/năm nhằm định hướng và tạo điều kiện cho các TCTD giảm mặt bằng lãi suất cho vay, góp phần tăng cường đầu tư xã hội, hỗ trợ sản xuất, tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm.

Đến nay, lãi suất cho vay VND đã giảm bình quân khoảng 1,5 – 2,0%/năm so với cuối năm 2022 và dự kiến sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới do tác động của độ trễ chính sách sau những lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành của NHNN. Từ đầu năm chỉ kỳ vọng giảm 1,5% nhưng đến nay mới tháng 10 đã giảm mức 1,5-2% từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục giảm.

Đồng thời, điều hành linh hoạt, chủ động thị trường tiền tệ, tỷ giá để tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.Ngoại tệ tỉ giá có dao động lên xuống nhưng vẫn trong khuôn khổ đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4,5% vì đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng.

Thứ hai, NHNN đã phân bổ và mở rộng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm cho các TCTD để các TCTD chủ động cân đối, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, người dân ngay từ đầu năm; chỉ đạo các TCTD tập trung tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên và là động lực tăng trưởng.

 

Đồng thời, ban hành chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ các khách hàng gặp khó khăn, chưa có khả năng trả nợ không bị chuyển nhóm nợ và tiếp tục được các TCTD xem xét cho vay mới nếu đáp ứng đủ điều kiện.

Thứ ba, chỉ đạo các TCTD triển khai nhiều chương trình tín dụng đặc thù như: chương trình tín dụng 15.000 tỷ đồng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản; chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng cho lĩnh vực BĐS; Chính sách hỗ trợ 2% lãi suất… 20.000 tỷ đồng cho tín dụng tiêu dùng.

Thứ tư, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật để tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng các hình thức cấp tín dụng trên cơ sở ứng dụng công nghệ số. Sửa đổi các quy định có liên quan về hoạt động cho vay của TCTD theo hướng giảm bớt các thủ tục không cần thiết và tạo thuận lợi hơn cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Thứ năm, tăng cường phối hợp chặt chẽ với chính quyền 63 tỉnh, thành phố nắm bắt kịp thời các khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp trên từng địa bàn liên quan đến tín dụng ngân hàng và chỉ đạo các TCTD khẩn trương có các giải pháp tháo gỡ, hỗ trợ ngay. Trong đó, NHNN đặc biệt quan chỉ đạo xử lý kịp thời các kiến nghị của Hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp…

Với sự triển khai quyết liệt và nỗ lực của NHNN và ngành ngân hàng, đến ngày 29/9/2023, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đã tăng gần 7% (cùng kỳ năm 2022 tăng 11,05%), riêng trong tháng 9 những ngày đầu tháng 10 tốc độ tăng trưởng tích cực đạt hơn 1%. Tổng dư nợ cả nền kinh tế là khoảng 13 triệu tỷ đồng, từ đầu năm cung ứn thêm cho DN hỗ trợ thị trường trái phiếu đang khó khăn gần 600 nghìn tỷ.

Nói về định hướng điều hành trong thời gian tới, Phó Thống đốc cho biết NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ bảo đảm ổn định.

Trong đó công cụ tỉ giá, bảo đảm ổn định, lãi suất được điều hành theo hướng ổn định, giảm dần, phù hợp với diễn biến lạm phát và tình hình tăng trưởng kinh tế, không để tình trạng đầu cơ găm giữ nâng tỉ giá, sự dụng các nguồn lực, bảo đảm tiếp tục điều hành tỉ giá.

Thứ hai là tiếp tục điều hành lãi suất theo hướng giảm dần, NHNN chỉ đạo các NHTM tiết kiệm chi phí, bằng mọi nguồn lực chia sẻ khó khăn giảm lãi suất cho DN.

Thứ ba là tháo gỡ các điều kiện thủ tục tiếp cận tín dụng. Tuy nhiên theo Phó Thống đốc, cái này có hai mặt, vì một mặt nếu như không bảo đảm tối thiểu trong điều kiện tín dụng có thể dẫn đến không an toàn lành mạnh các tổ chức tín dụng và an toàn tài chính quốc gia. Vì thế, quan điểm NHNN là bảo đảm hài hòa an toàn vốn, ngược lại tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng tín dụng.

“Các giải pháp này chúng tôi đã cố gắng tạo điều kiện tích cực nhất. Ngay hôm qua, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo tập trung tháo gỡ khó khăn cho các Tập đoàn, Tổng công ty lớn, các doanh nghiệp chủ lực của nền kinh tế. Thậm chí, cần có cơ chế tín dụng riêng chẳng hạn.

Ngoài ra, các Tập đoàn lớn trong các lĩnh vực khác, trong đó có bất động sản cũng sẽ có chủ trương và giải pháp thời gian tới”, ông Tú nhấn mạnh.

Chủ tịch nước: Bắc Giang đang trở thành trung tâm công nghiệp lớn

TPO – Chủ tịch nước nhấn mạnh Bắc Giang đang dần trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước. Nông nghiệp phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa; đã hình thành vùng cây ăn quả tập trung giá trị kinh tế cao, có thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tối 8/10, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm và chỉ đạo Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ I. Dự chương trình còn có Ủy viên Bộ Chính trị, Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình và lãnh đạo nhiều bộ, ngành, lãnh đạo và hàng nghìn người dân tỉnh Bắc Giang.

Chủ tịch nước: Bắc Giang đang trở thành trung tâm công nghiệp lớn ảnh 1
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự chương trình (Ảnh: TTXVN).

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang vinh dự và tự hào 5 lần được đón Bác về thăm. Các chuyến thăm ấy diễn ra ở những thời điểm khác nhau, nhưng đều thể hiện tình cảm yêu quý, sự quan tâm của Người đối với đồng bào, đồng chí tỉnh Bắc Giang. Người đã để lại trong lòng cán bộ, đảng viên và Nhân dân Bắc Giang nhiều thế hệ những kỷ niệm sâu sắc.

Đặc biệt, ngày 17/10/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Trường Chinh – Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thăm nhân dân và dự chỉ đạo Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ I (tỉnh Hà Bắc được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang theo Nghị quyết Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ 5 ngày 27/10/1962).

Chủ tịch nước: Bắc Giang đang trở thành trung tâm công nghiệp lớn ảnh 2
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm và chỉ đạo Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ I. Ảnh: Nguyễn Thắng.

Tại chương trình, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang Dương Văn Thái cho biết, 60 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và người dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang luôn khắc ghi, thực hiện tốt lời dạy của Bác. Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, cán bộ, đảng viên và người dân trong tỉnh Bắc Giang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng; hăng hái thi đua, vừa chiến đấu vừa sản xuất; chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ, chính quyền và người dân tỉnh Bắc Giang tiếp tục thực hiện tốt lời dạy của Bác, vận dụng sáng tạo vào các chủ trương, định hướng xây dựng phát triển địa phương, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể.

Từ một tỉnh thuần nông, điều kiện kinh tế – xã hội hết sức khó khăn thời điểm tái lập tỉnh năm 1997, Bắc Giang đã vươn lên trở thành điểm sáng của cả nước trên nhiều lĩnh vực. Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn (GRDP) tỉnh Bắc Giang luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước; quy mô kinh tế không ngừng được mở rộng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được cải thiện. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn nằm trong top 10 cả nước. Bắc Giang đang từng bước trở thành trung tâm công nghiệp lớn, hiện đại trong vùng và cả nước.

Những năm qua, tỉnh Bắc Giang luôn quan tâm chăm lo phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Quốc phòng, an ninh được đảm bảo; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác đối ngoại ngày càng được đẩy mạnh.

Tại chương trình, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cho biết Bắc Giang là vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống văn hóa và lịch sử; nơi ghi dấu ấn những chiến công hiển hách của dân tộc ta trong chống giặc ngoại xâm. Bắc Giang vinh dự, tự hào được 5 lần đón Bác Hồ về thăm. Trong các chuyến thăm ấy, Bác đã ân cần chỉ bảo Đảng bộ và người dân Bắc Giang phải đoàn kết một lòng, nâng cao tinh thần làm chủ, phát triển sản xuất, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Chủ tịch nước: Bắc Giang đang trở thành trung tâm công nghiệp lớn ảnh 3
Người dân hào hứng tham gia chương trình. Ảnh: Nguyễn Thắng.

60 năm qua thực hiện lời Bác dạy, trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng bộ và người dân tỉnh Bắc Giang đã đóng góp nhiều sức người, sức của, chi viện cho tiền tuyến, vừa hăng hái sản xuất, vừa dũng cảm chiến đấu bảo vệ quê hương, cùng quân dân cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và người dân tỉnh Bắc Giang tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn, năng động sáng tạo, có nhiều cách làm sáng tạo, coi trọng phát huy nội lực, phát triển đồng bộ 3 lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.

Chủ tịch nước nhấn mạnh Bắc Giang đang dần trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước. Nông nghiệp phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa; đã hình thành vùng cây ăn quả tập trung giá trị kinh tế cao, có thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế. Tỉnh Bắc Giang xây dựng nông thôn mới dẫn đầu vùng trung du, miền núi Bắc Bộ với gần 85% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Chủ tịch nước: Bắc Giang đang trở thành trung tâm công nghiệp lớn ảnh 4
Một tiết mục biểu diễn tại Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm và chỉ đạo Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ I. Ảnh: Nguyễn Thắng.

Bắc Giang hôm nay đã vươn lên mạnh mẽ, là một trong những tỉnh phát triển năng động, đạt nhiều thành tựu, trở thành điểm sáng của cả nước trên các lĩnh vực, diện mạo tỉnh thay đổi từng ngày, tràn ngập sức sống mới. Những thành tựu đạt được trong 60 năm qua là sự nỗ lực không ngừng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang trong thực hiện lời dạy của Bác kính yêu khi Người về thăm Bắc Giang.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng gợi mở, mỗi cán bộ, đảng viên, đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Giang hãy luôn ghi nhớ, thấm nhuần, cụ thể hóa lời dạy của Bác cho phù hợp với tình hình mới và điều kiện thực tế của tỉnh, phấn đấu xây dựng tỉnh Bắc Giang phát triển toàn diện, vững chắc, nằm trong 15 tỉnh, thành phát triển có quy mô kinh tế dẫn đầu cả nước vào năm 2025. Bắc Giang trở thành một tỉnh “ngày càng giàu có, nhân dân ngày thêm ấm no” như Bác mong muốn.

Chủ tịch nước: Bắc Giang đang trở thành trung tâm công nghiệp lớn ảnh 5
Hàng nghìn người dân xem Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm và chỉ đạo Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ I. Ảnh: Nguyễn Thắng.

Bắc Giang tiếp tục đẩy mạnh đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là địa bàn miền núi; quản lý, tổ chức thực hiện nghiêm quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt. Trong quá trình phát triển, Bắc Giang cần gắn kết chặt chẽ giữa việc thực hiện phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc bộ, trong đó Bắc Giang giữ vị trí là cực tăng trưởng, động lực thúc đẩy.

Trước đó, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự lễ khởi công dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử cấp quốc gia: Khán đài B, Sân vận động Bắc Giang – Địa điểm ghi dấu sự kiện 2 lần Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, nhân dân trong tỉnh.

Chủ tịch nước: Bắc Giang đang trở thành trung tâm công nghiệp lớn ảnh 6
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự lễ khởi công dự án tu bổ, tôn tạo di tích Khán đài B, sân vận động Bắc Giang – địa điểm ghi dấu sự kiện 2 lần Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, nhân dân trong tỉnh. Ảnh: Nguyễn Thắng.

“Bất động sản đã đi đến giai đoạn cuối của kỳ suy thoái”

“Bất động sản đã đi đến giai đoạn cuối của kỳ suy thoái”

Khác với giai đoạn trước, đến cuối quý III/2023, thị trường không còn ghi nhận các sản phẩm bất động sản chào bán mới bị cắt giảm giá sâu, thậm chí giá bán sơ cấp đã bắt đầu tăng nhẹ 2 – 5%. Có thể nói thị trường đã chạm đáy và hoàn toàn có thể dự báo thị trường sẽ dần hồi phục.

 

Từ đầu năm tới nay, Chính phủ, bộ ngành và các địa phương liên tục có những động thái mạnh tay nhằm kích thích kinh tế, trong đó có thị trường bất động sản.

Theo báo cáo của Viện nghiên cứu Kinh tế – Tài chính – Bất động sản Dat Xanh Services (DXS – FERI), tiêu điểm là việc NHNN hạ lãi suất điều hành 4 lần liên tiếp tính từ tháng 3/2023, đưa mức lãi suất tái chiết khấu về 3,5%, lãi suất tái cấp vốn về 4,5%.

Lãi suất huy động hạ nhiệt sâu kéo theo lãi suất cho vay đang tiệm cận về mức đầu năm 2022. Lãi suất ưu đãi sản xuất kinh doanh đang được các ngân hàng chào với mức trung bình 6,5 – 7,5%/năm. Nhiều ngân hàng chào các khoản vay mới mua bất động sản trong thời gian ưu đãi 7,5 – 8,5%, lãi suất thả nổi trung bình 11 – 12%.

Ngân sách phê duyệt cho các hạng mục đầu tư công 2023 lên đến mức 700.000 tỷ đồng. Lần đầu tiên sau ba quý, giải ngân vốn đầu tư công được khoảng 363.310 tỷ đồng, đạt 51,38% kế hoạch. Chính phủ tập trung mạnh mẽ cho đầu tư công, kỳ vọng sẽ mở ra những cơ hội thúc đẩy kinh tế sớm phục hồi.

Thông tư 06 về việc cho vay để trả trước hạn khoản vay cũ tại ngân hàng khác được ban hành. Sau nhiều lần hiệu chỉnh, đến nay Thông tư 06 cũng có những giá trị nhất định giúp gỡ khó cho cả doanh nghiệp và người dân trong việc tiếp cận vốn vay.

Đến cuối tháng 9/2023, cạnh tranh về lãi suất cho vay kỳ hạn ngắn (6 tháng đến 1 năm) giữa các ngân hàng đang khá quyết liệt. Đơn cử như mức chào cho vay thấp nhất cho kỳ hạn 6 tháng là 5,6% tại Vietinbank, 6% tại BIDV, 6,9% tại Vietcombank.

Nghị định 10 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai đề cập đến nội dung condotel, officetel có thể được cấp sổ đỏ, qua đó kỳ vọng tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý nhiều năm của loại hình này.

Gần đây, NHNN liên tục hút tiền về thông qua kênh phát hành tín phiếu với giá trị gần 90.000 tỷ đồng tính đến ngày 28/9/2023. Mục đích là giảm áp lực cho tỷ giá, không gây gián đoạn thanh khoản cho toàn bộ nền kinh tế, đảm bảo lãi suất thực của nền kinh tế tiếp tục xu hướng giảm.

“Bất động sản đã đi đến giai đoạn cuối của kỳ suy thoái” - Ảnh 1.

Tuy nhiên, theo DXS – FERI, 9 tháng đầu năm 2023, thị trường tiếp tục khan hiếm nguồn cung mới, tỷ lệ hấp thụ giảm sâu về mức trung bình trên dưới 20%. Các chính sách tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản chưa phát huy hiệu quả rõ rệt trong việc thúc đẩy thị trường phục hồi. Tình hình kinh tế trong nước và thế giới có tác động không thuận lợi cho thị trường bất động sản, niềm tin thị trường chưa được khôi phục hoàn toàn.

Du vậy, nhìn chung thị trường vẫn có những điểm sáng như lãi suất huy động đã giảm về mức thấp nhất kể từ 2020, kéo theo lãi suất chào cho các khoản vay mới cũng đang được điều chỉnh giảm về mức tương đương đầu năm 2022. Và dù tỷ lệ hấp thụ chung của toàn thị trường vẫn đang ở mức thấp so với cùng kỳ các năm trước khủng hoảng (trung bình khoảng trên dưới 20% toàn thị trường), nhưng tỷ lệ hấp thụ của năm 2023 đã tăng dần theo quý: quý 2 tăng hơn quý 1, quý 3 tăng hơn quý 2, và nếu đà tăng tỷ lệ hấp thụ như thế này duy trì ổn định thì kỳ vọng thị trường bất động sản sẽ từ từ ấm dần lên trong giai đoạn sắp tới.

TS. Phạm Anh Khôi, Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế – Tài chính – Bất động sản Dat Xanh Services (DXS – FERI), nhận định bất động sản đã đi đến giai đoạn cuối của kỳ suy thoái và hiện nay thị trường gần như đã chạm đáy.

Khác với giai đoạn trước, đến cuối quý III/2023, thị trường không còn ghi nhận các sản phẩm bất động sản chào bán mới bị cắt giảm giá sâu, thậm chí giá bán sơ cấp đã bắt đầu tăng nhẹ 2 – 5%. Có thể nói thị trường đã chạm đáy và hoàn toàn có thể dự báo thị trường sẽ dần hồi phục.

PGS.TS. Trần Kim Chung, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) khẳng định, thị trường bất động sản hiện nay đang ở thời điểm “lên chưa lên mà xuống cũng không xuống”, nhưng cơ hội chắc chắn nhiều hơn thách thức. Trong đó, cơ hội lớn nhất là Việt Nam đang hoàn thiện các quy hoạch và pháp luật liên quan đến thị trường bất động sản, cùng với đó, mối quan hệ Việt – Mỹ đã được nâng cấp.

Theo PGS.TS. Trần Kim Chung, thị trường bất động sản không thể khó khăn hơn nữa mà chỉ tốt lên, vì khó khăn lớn nhất đã đi qua. Tuy nhiên, tốt lên như thế nào phụ thuộc rất lớn vào tháng 11 tới đây, khi các luật quan trọng đối với lĩnh vực bất động sản như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở sẽ được sửa đổi và thông qua.

Thị trường bất động sản đã qua đáy và chuẩn bị bước vào chu kỳ tăng giá

Ông Nguyễn Văn Đính – Chủ tịch Hội môi giới bất động sản – cho biết, trong hai tháng đầu quý III/2023 đã có 5.000 lượt giao dịch bất động sản. Trong giai đoạn khó khăn đây là con số đáng khích lệ, tạo động lực cho thị trường bất động sản quý IV/2023 và quý I/2024 có cơ hội phục hồi rõ nét hơn.

Triển khai thực hiện điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

BẮC GIANG – UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định triển khai thực hiện điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Kế hoạch nhằm cụ thể hóa trách nhiệm của các sở, ban, ngành, UBND huyện, thành phố trong thực các nội dung công tác điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; bảo đảm thống nhất công tác lãnh đạo, chỉ đạo của UBND tỉnh trong việc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh.

Yêu cầu việc triển khai thực hiện công tác điều chỉnh Quy hoạch tỉnh phải bảo đảm tính thống nhất, rõ ràng, chất lượng, đáp ứng các quy định về thời gian, trình tự, thủ tục lập, thẩm định và trình phê duyệt theo quy định của Luật Quy hoạch.

Nội dung điều chỉnh Quy hoạch tỉnh bao gồm: Điều chỉnh các nội dung Quy hoạch tỉnh bảo đảm phù hợp với Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch ngành quốc gia (toàn bộ các quy hoạch theo Luật Quy hoạch, kể cả Quy hoạch đang lập, yêu cầu phải hoàn thành trước 31/12/2023 theo Nghị quyết số 108 ngày 26/8/2022 của Chính phủ), Quy hoạch vùng thời kỳ 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2050.

Bổ sung phương án sắp xếp đơn vị hành chính tỉnh Bắc Giang đến năm 2030 vào Quy hoạch tỉnh. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các nội dung liên quan đến định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các nội dung khác trong Quy hoạch tỉnh để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, liên kết giữa sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đối với nội dung Quy hoạch tỉnh theo quy định (không điều chỉnh nội dung, dự án trong Quy hoạch tỉnh không liên quan đến sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã).

Sở Kế hoạch và Đầu tư (cơ quan lập điều chỉnh Quy hoạch tỉnh), điều phối toàn bộ hoạt động điều chỉnh Quy hoạch tỉnh; chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về tiến độ, nội dung điều chỉnh quy hoạch. Tham mưu chuẩn bị các nội dung để báo cáo các cấp, các ngành theo Kế hoạch này. Tham mưu xây dựng đề cương (làm cơ sở để cho các sở, ban, ngành, địa phương) báo cáo UBND tỉnh trước ngày 30/9/2023.

Các sở, ban, ngành, UBND huyện, thành phố có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức nghiên cứu, cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, tài liệu, sơ đồ, bản đồ có liên quan phục vụ việc tổ chức xây dựng báo cáo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh. Xây dựng Báo cáo điều chỉnh Quy hoạch ngành; chịu hoàn toàn trách nhiệm về toàn bộ các nội dung điều chỉnh thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành.

Tham gia đầy đủ các cuộc họp, đóng góp ý kiến chuyên môn của cơ quan, đơn vị đối với hồ sơ dự thảo của Báo cáo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh. Chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh về chất lượng và thời gian thực hiện nhiệm vụ được phân công.

Các tổ chức chính trị xã hội và doanh nghiệp, người dân, các chuyên gia, nhà khoa học… là các đối tượng được tham vấn trong quá trình điều chỉnh Quy hoạch tỉnh.

Tăng tốc thi công cầu vượt đường Xương Giang

BẮC GIANG – Những ngày này, trên công trường thi công cầu vượt đường vành đai Đông Bắc qua đường Xương Giang (TP Bắc Giang) luôn có hơn 100 công nhân làm việc, chia làm 3 mũi thi công với 3 ca/ngày để đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành công trình trước kế hoạch đề ra.

  Cầu vượt được khởi công từ tháng 6/2023 do Công ty TNHH Xây dựng Tân Thịnh (TP Bắc Giang) thi công. Chủ đầu tư là Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng TP Bắc Giang. Công trình được xây dựng tại phường Xương Giang với diện tích sử dụng đất khoảng 2,5 ha. Ảnh: Công nhân đang kéo cáp chuẩn bị lắp dầm cầu.

Cầu vượt được khởi công từ tháng 6/2023 do Công ty TNHH Xây dựng Tân Thịnh (TP Bắc Giang) thi công. Chủ đầu tư là Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng TP Bắc Giang. Công trình được xây dựng tại phường Xương Giang với diện tích sử dụng đất khoảng 2,5 ha. Ảnh: Công nhân đang kéo cáp chuẩn bị lắp dầm cầu.

Tổng mức đầu tư của cầu vượt gần 260 tỷ đồng từ nguồn ngân sách TP (bao gồm cả xây lắp, chi trả bồi thường giải phóng mặt bằng và một số chi phí khác).  
Tổng mức đầu tư của cầu vượt gần 260 tỷ đồng từ nguồn ngân sách TP (bao gồm cả xây lắp, chi trả bồi thường giải phóng mặt bằng và một số chi phí khác).
Các hạng mục của công trình gồm: Cầu vượt bê tông cốt thép dự ứng lực với 7 nhịp, chiều dài cầu hơn 290 m, chiều rộng mặt cắt ngang 18 m; chiều rộng mặt đường gom mỗi bên 11,5 m (phần xe chạy mỗi bên khoảng 7,5 m, dải an toàn mỗi bên 0,5 m, hè đường mỗi bên 3,5m). Ảnh: Công nhân thi công trên công trường.  
Các hạng mục của công trình gồm: Cầu vượt bê tông cốt thép dự ứng lực với 7 nhịp, chiều dài cầu hơn 290 m, chiều rộng mặt cắt ngang 18 m; chiều rộng mặt đường gom mỗi bên 11,5 m (phần xe chạy mỗi bên khoảng 7,5 m, dải an toàn mỗi bên 0,5 m, hè đường mỗi bên 3,5m). Ảnh: Công nhân thi công trên công trường.
Công ty TNHH Xây dựng Tân Thịnh huy động nhiều máy móc thi công đường dẫn lên cầu.
Công ty TNHH Xây dựng Tân Thịnh huy động nhiều máy móc thi công đường dẫn lên cầu.
Đến thời điểm này, cầu vượt đã được thi công cơ bản xong các mố cầu, đổ bê tông 28/56 dầm cầu, lắp đặt 16/56 dầm, đạt 70% khối lượng công việc. Công nhân đang tập trung cao hoàn thiện các phần việc còn lại như: Lắp dầm cầu, đổ bê tông dầm cầu, đường dẫn lên cầu, xây dựng hệ thống cống thoát nước..., phấn đấu hoàn thành công trình vào tháng 3/2024, trước kế hoạch 3 tháng. Ảnh: Công nhân hàn, lắp các thanh thép tại trụ cầu. 
Đến thời điểm này, cầu vượt đã được thi công cơ bản xong các mố cầu, đổ bê tông 28/56 dầm cầu, lắp đặt 16/56 dầm, đạt 70% khối lượng công việc. Công nhân đang tập trung cao hoàn thiện các phần việc còn lại như: Lắp dầm cầu, đổ bê tông dầm cầu, đường dẫn lên cầu, xây dựng hệ thống cống thoát nước…, phấn đấu hoàn thành công trình vào tháng 3/2024, trước kế hoạch 3 tháng. Ảnh: Công nhân hàn, lắp các thanh thép tại trụ cầu.
Thi công cống ngang thoát nước tại khu vực đường gom.
Thi công cống ngang thoát nước tại khu vực đường gom.
Công trình hoàn thành đưa vào sử dụng nhằm giảm các xung đột giao thông với đường sắt; mở rộng không gian đô thị, đẩy mạnh phát triển KT-XH, góp phần hoàn thiện quy hoạch chung TP Bắc Giang đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
Công trình hoàn thành đưa vào sử dụng nhằm giảm các xung đột giao thông với đường sắt; mở rộng không gian đô thị, đẩy mạnh phát triển KT-XH, góp phần hoàn thiện quy hoạch chung TP Bắc Giang đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.

Điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị tỉnh Bắc Giang đến năm 2030

BẮC GIANG – UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định về việc phê duyệt điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị tỉnh Bắc Giang đến năm 2030.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Mục tiêu nhằm cụ thể hóa định hướng phát triển hệ thống đô thị trên địa bàn tỉnh Bắc Giang phù hợp với quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia; chương trình phát triển đô thị quốc gia; quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; quy hoạch chung đô thị; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; kế hoạch đầu tư công trung hạn và khả năng huy động nguồn lực thực tế tại địa phương.

Theo đó, tỉnh Bắc Giang đặt mục tiêu đến năm 2025, phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa đạt 58,28%. Tỷ lệ đất xây dựng đô thị trên tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 5 – 7%. Diện tích nhà ở bình quân khu vực đô thị đạt khoảng 29,6 m2 sàn/người. Tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 98,5%. Tỷ lệ đất giao thông so với đất xây dựng đô thị tại đô thị loại II đạt khoảng 15-22%, đô thị loại IV đạt khoảng 12-17%, đô thị loại V đạt khoảng 11-16%. Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng tại đô thị loại II đạt khoảng 10 – 15%, đô thị loại IV đạt khoảng 3 – 5%, đô thị loại V đạt khoảng 1 – 2%.

Tỷ lệ dân số được cấp nước sạch hợp vệ sinh tại đô thị loại II đạt khoảng 95-100%, đô thị loại IV đạt khoảng 90-95%, đô thị loại V đạt khoảng 80-95%. Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt tại đô thị loại II đạt khoảng 135 – 150 lít/người/ngày đêm, đô thị loại IV đạt khoảng 110 – 130 lít/người/ngày đêm, đô thị loại V đạt khoảng 100 – 120 lít/người/ngày đêm.

Tỷ lệ bao phủ của hệ thống thoát nước đạt khoảng 70 – 80% diện tích lưu vực thoát nước trong các đô thị; tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật đối với đô thị loại II là 60% trở lên, đô thị loại IV là 15% trở lên và loại V là 10% trở lên. Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đối với đô thị loại II đạt khoảng 95 – 100%, đô thị loại IV đạt khoảng 90 – 95%, đô thị loại V đạt khoảng 80 – 90%. Tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom và xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường đạt 100%.

Tỷ lệ đường phố chính được chiếu sáng tại đô thị loại II đạt khoảng 95 – 100%, đô thị loại IV đạt khoảng 80 – 90%, đô thị loại V đạt khoảng 75 – 85%. Tỷ lệ ngõ, ngách được chiếu sáng đối với đô thị loại II đạt khoảng 80 – 90%, đô thị loại IV, loại V đạt khoảng 50 – 70%. Diện tích đất cây xanh bình quân trên mỗi người dân đô thị đối với đô thị loại II đạt khoảng 10 – 15m2/người; đô thị loại IV, loại V đạt khoảng 6 – 8 m2/người.

Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa đạt 71,66%. Tỷ lệ đất xây dựng đô thị trên tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 7 – 9%. Diện tích sàn nhà ở bình quân khu vực đô thị đạt khoảng 32,7m2 sàn/người. Tỷ lệ nhà kiên cố đạt 99%. Tỷ lệ đất giao thông so với đất xây dựng đô thị tại đô thị loại I đạt khoảng 20 – 25% trở lên; đô thị từ loại III đến loại V đạt khoảng 16% trở lên. Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng tại đô thị loại I đạt khoảng 15 – 20%; đô thị loại III đạt khoảng 6 – 10%; đô thị loại IV và loại V đạt khoảng 3 – 5%. Tỷ lệ dân số được cấp nước sạch hợp vệ sinh tại đô thị đạt 100%.

Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt tại đô thị đạt từ 120 lít/người/ngày đêm trở lên. Tỷ lệ bao phủ của hệ thống thoát nước đạt 80 – 90% diện tích lưu vực thoát nước trong các đô thị; tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật đối với đô thị loại I là 70% trở lên, đô thị loại III là 20% trở lên, loại IV là 18% trở lên và loại V là 12% trở lên.

Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đối với đô thị loại I đạt khoảng 95 – 100%; đô thị loại III, loại IV đạt khoảng 90 – 95%; đô thị loại V đạt khoảng 80 – 90%. Tỷ lệ chiếu sáng đường phố chính và khu nhà ở, ngõ xóm tại đô thị loại I đạt 100%; các đô thị loại III, loại IV, loại V đạt 90% chiều dài các tuyến đường chính và 85% chiều dài đường khu nhà ở, ngõ xóm được chiếu sáng. Diện tích đất cây xanh bình quân trên mỗi người dân đô thị của TP Bắc Giang đạt trên 19 m2/người, các đô thị loại III, loại IV đạt trên 8 m2/người, các đô thị loại V đạt trên 6 m2/người.

Về lộ trình nâng loại hệ thống đô thị, đến năm 2025, tỉnh Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính với 16 đô thị và 1 khu vực đạt tiêu chí đô thị, trong đó 1 đô thị loại II; 5 đô thị loại IV gồm 2 thị xã (Việt Yên, thị xã Chũ), huyện Hiệp Hòa và 2 thị trấn (Vôi, Đồi Ngô); 11 đô thị loại V gồm 8 thị trấn hiện hữu (An Châu, Tây Yên Tử, Kép, Cao Thượng, Nhã Nam, Phồn Xương, Bố Hạ, Phương Sơn); 2 thị trấn được thành lập mới (Biển Động, Phì Điền) và 1 khu vực Mỏ Trạng đạt tiêu chí đô thị loại V.

Đến năm 2030, tỉnh Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính với 21 đô thị, trong đó 1 đô thị loại I (TP Bắc Giang); 1 đô thị loại III (thành phố Việt Yên); 4 đô thị loại IV gồm 3 thị xã (Hiệp Hòa, Chũ, Lạng Giang) và 1 thị trấn (Đồi Ngô); 15 đô thị loại V gồm 9 thị trấn hiện hữu (An Châu, Tây Yên Tử, Cao Thượng, Nhã Nam, Phồn Xương, Bố Hạ, Phương Sơn, Biển Động, Phì Điền) và 6 thị trấn được thành lập mới (Tân Sơn, Lan Mẫu, Cẩm Lý, Bỉ (Ngọc Thiện), Việt Lập, Mỏ Trạng).

Điều kiện để tách thửa đất giãn dân

Đất giãn dân là chính sách hỗ trợ về đất đai nhà ở của Nhà nước dành cho người dân trong một số trường hợp. Về bản chất, đất giãn dân vẫn là đất ở, do đó vẫn được phép tách thửa khi đảm bảo các điều kiện theo quy định như đối với đất ở.

Điều kiện để tách thửa đất giãn dân
Đất giãn dân được phép tách thửa khi đảm bảo các điều kiện như đối với đất ở.

Đất giãn dân thường được cơ quan có thẩm quyền cấp cho người dân trong các trường hợp: Hộ gia đình có nhiều thành viên mà không đáp ứng được chỗ ở và không có điều kiện để mua đất, mua nhà. Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Hộ gia đình sử dụng đất nằm trong diện bị quy hoạch, giải tỏa…

Như vậy, hiểu một cách đơn giản thì đất giãn dân là chính sách hỗ trợ về đất đai nhà ở của Nhà nước dành cho người dân trong một số trường hợp. Do đó, đất giãn dân thường có giá thành rẻ hơn để phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân so với đất ở thông thường.

Về bản chất, đất giãn dân vẫn là đất ở, do đó vẫn được phép tách thửa khi đảm bảo các điều kiện như đối với đất ở.

Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013, Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và khoản 1 Điều 2 Thông tư 09/2021/TT-BTNMT, để được tách thửa đất cần đáp ứng các điều kiện sau: Có giấy chứng nhận; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; Đất còn thời hạn sử dụng.

Ngoài ra, căn cứ theo quy định Điều 75a Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 23 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP về điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa như sau: “UBND cấp tỉnh căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng và điều kiện cụ thể tại địa phương để quy định cụ thể điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất theo từng loại đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất”.

Theo đó, ngoài những điều kiện nêu trên, để được tách thửa còn phải đáp ứng về điều kiện tách thửa đất tối thiểu tại mỗi địa phương do UBND cấp tỉnh quy định.

Bắc Giang: duyệt Quy hoạch phân khu xây dựng KCN Mỹ Thái

UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch phân khu xây dựng Khu công nghiệp Mỹ Thái, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (tỷ lệ 1/2.000).

Ảnh minh hoạ.
Ảnh minh hoạ.

Theo đó, khu vực nghiên cứu lập quy hoạch thuộc địa giới hành chính của xã Mỹ Thái, thị trấn Vôi và xã Dương Đức, huyện Lạng Giang. Diện tích nghiên cứu lập quy hoạch khoảng 160ha. Ranh giới được giới hạn phía Bắc giáp Khu dân cư và cánh đồng thôn Chi Lễ, thôn Cầu Trong, xã Mỹ Thái;

Phía Nam giáp Khu dân cư các thôn Chi Lễ, Cầu Ngoài, Cầu Trong, xã Mỹ Thái; phía Đông giáp cánh đồng thôn Thượng, xã Mỹ Thái và Tổ dân phố Hoành Sơn, thị trấn Vôi; phía Tây giáp Khu dân cư thôn Đức Thọ và đê Dương Đức xã Dương Đức.

Về tính chất, KCN Mỹ Thái là KCN tập trung, đa ngành, có hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và hiện đại, tiên tiến, thân thiện môi trường.

Đồ án quy hoạch phân khu xây dựng phải phù hợp với các đồ án quy hoạch đã được phê duyệt, các tiêu chuẩn, quy chuẩn và hiện trạng khu vực nghiên cứu; Tuân thủ những quy định về bảo vệ hành lang an toàn của các công trình hạ tầng kỹ thuật đi qua khu vực; Phân tích, đánh giá nhu cầu, mô hình phát triển dịch vụ cho khu vực; Khai thác triệt để điều kiện địa hình tự nhiên để tạo ra không gian hợp lý trong khu vực.

Các hạng mục đầu tư xây dựng gồm, công trình hạ tầng kỹ thuật: đường giao thông nội bộ, bãi đỗ xe, cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng, thông tin liên lạc, ga rác, trạm xử lý nước thải…; Công trình: văn phòng, thương mại dịch vụ, nhà xưởng sản xuất…