Ngày 26/2, CapitaLand Development (CLD), nhánh kinh doanh phát triển bất động sản của Tập đoàn CapitaLand, đã ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư với UBND tỉnh Bắc Giang.
Theo đó, 2 bên đã chia sẻ mối quan tâm chung với trọng tâm đẩy mạnh phát triển dự án khu đô thị – công nghiệp – logistics đầu tiên tại Việt Nam với tổng giá trị cam kết đầu tư 1 tỷ USD (khoảng 22.700 tỷ đồng).
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương làm việc với đại diện lãnh đạo Tập đoàn CapitaLand. Ảnh: Báo Bắc Giang.
Theo định hướng phát triển 5 năm tới, CLD đặt mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng tại Việt Nam thông qua việc triển khai các khối tài sản đa dạng, mở rộng danh mục đầu tư sang các khối trung tâm dữ liệu, logistics và khu công nghiệp; tìm kiếm thêm các cơ hội thực hiện thiết kế, quy hoạch và phát triển đô thị.Buổi lễ trao văn kiện hợp tác diễn ra dưới sự chứng kiến của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore. Đây là một trong những dự án đầu tư có giá trị cao nhất được ký kết giữa doanh nghiệp Singapore và phía Việt Nam trong chuyến thăm lần này.
Tổng giám đốc CLD Việt Nam Ronald Tay nhấn mạnh mong muốn thúc đẩy mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với tỉnh Bắc Giang và đóng góp vào quá trình đô thị hóa thông qua định hướng phát triển các dự án bất động sản bền vững và thông minh.
“Thỏa thuận hợp tác này sẽ đề ra định hướng cho dự án khu đô thị – công nghiệp – logistics đầu tiên của CLD tại Việt Nam và là yếu tố cộng hưởng trong việc hình thành mạng lưới chuỗi cung ứng linh hoạt cho vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Dự án được kỳ vọng sẽ tạo ra cơ hội việc làm cho hơn 20.000 lao động tại địa phương,” ông Tay cho biết thêm.
Thỏa thuận hợp tác sẽ tạo điều kiện cho các bên nghiên cứu, đánh giá quỹ đất tiềm năng với quy mô trên 400 ha, bao gồm dự án khu đô thị dọc Sông Cầu và khu công nghiệp – logistics lân cận địa bàn huyện Việt Yên.
CLD hiện sở hữu danh mục đầu tư trị giá khoảng 22,4 tỷ SGD (380.000 tỷ đồng) tính đến 30/9/2021. Doanh nghiệp sở hữu các khối tài sản đa dạng từ các dự án tích hợp, bán lẻ đến khu dân cư và nhà ở, khu thương mại, khu công nghiệp, các khối logistics và trung tâm dữ liệu.
Riêng CLD Việt Nam giám sát và phát triển hoạt động kinh doanh tại Việt Nam – một trong những thị trường cốt lõi đã hiện diện trong 28 năm. Danh mục tại Việt Nam bao gồm 2 dự án phức hợp, hơn 12.000 căn hộ tại 16 dự án nhà ở và 1 khu bán lẻ tại Hà Nội và TP HCM.
Vào tháng 12/2021, CLD còn thông báo hợp tác xây dựng dự án nhà ở quy mô lớn đầu tiên của tập đoàn tại thành phố mới Bình Dương. Tổng giá trị phát triển dự án khoảng 18.330 tỷ đồng. Dự kiến sẽ có trên 3.700 căn hộ và nhà ở, đáp ứng nhu cầu cho khoảng 13.000 cư dân.
Là địa bàn có dân số cơ học tăng cao, kéo theo nhu cầu nhà ở lớn do thu hút nhiều tập đoàn, doanh nghiệp (DN) đầu tư vào khu, cụm công nghiệp nên Bắc Giang đã hình thành hàng loạt khu đô thị (KĐT), khu dân cư (KDC) mới. Thời gian tới, việc tăng KĐT, KDC được nhiều địa phương triển khai, điều này thêm nguồn cung cho thị trường bất động sản (BĐS) song việc phát triển phải bảo đảm quy hoạch.
Triển khai hàng loạt dự án
Theo ông Lại Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội BĐS tỉnh, qua thực tế năm 2021, thị trường BĐS sau đỉnh điểm của dịch Covid-19 tại Bắc Giang (tháng 5) phục hồi khá nhanh, thậm chí được đánh giá nhanh hơn nhiều tỉnh, TP lớn trong nước. Đất nền vẫn chiếm đa số trong thị trường giao dịch BĐS (khoảng 70%), nhất là KĐT, KDC xây dựng từ nguồn vốn đầu tư công.
Khuôn viên tháp đồng hồ – KĐT phía Tây Thị Trấn Vôi
KĐT phía Tây Thị Trấn Vôi
Bước sang năm 2022, tiềm năng BĐS Bắc Giang lớn, dự báo lượng hàng bán ra tương đối dồi dào vì nhiều nhà đầu tư dự án vốn ngoài ngân sách mới tung ra khoảng 30% tổng sản phẩm trong năm 2021. “Một số khu công nghiệp (KCN) vừa được Thủ tướng chấp thuận cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy phát triển KĐT, KDC. Qua đó sẽ có nhiều sản phẩm ở nhiều phân khúc khác nhau cho thị trường BĐS, thêm cơ hội cho nhà đầu tư”, ông Sơn nói.
Nắm bắt tình hình và nhận định thị trường BĐS những năm tới, các địa phương trên địa bàn tỉnh đẩy nhanh tiến độ và đề xuất hàng loạt dự án KĐT, KDC mới. Đến nay, đơn vị chuyên môn của huyện Tân Yên đã phối hợp nghiệm thu KĐT Chum Nho, thị trấn Nhã Nam để chuẩn bị tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất ở trong quý I/2022. Dự án có quy mô hơn 11 ha với khoảng 300 lô đất ở liền kề, biệt thự. Đây là dự án đô thị hiện đại, bảo đảm không gian sáng, xanh, sạch cho cư dân khi sinh sống trong khu vực.
Cùng với dự án trên, các dự án đang được đẩy nhanh tiến độ thi công như: Đồng Chủ, Đồng Cầu, OM7, Tây Nam (thị trấn Cao Thượng); KĐT phía Đông Nam, thị trấn Nhã Nam; KDC Bỉ (xã Ngọc Thiện), KDC Việt Ngọc (xã Việt Ngọc)… với quy mô từ 10 đến gần 70 ha.
Theo ông Nguyễn Viết Toàn, Chủ tịch UBND huyện Tân Yên, địa bàn được quy hoạch có 5 KCN, 8 cụm công nghiệp (CCN) và dự báo tốc độ phát triển kinh tế của huyện khá nhanh trong những năm tới cộng với hạ tầng giao thông kết nối liên tỉnh ngày càng hoàn thiện, huyện đầu tư, thu hút nhiều dự án KĐT, KDC mới. Riêng năm 2022, huyện đề xuất 41 dự án KĐT, KDC mới.
Tại huyện Yên Dũng đang triển khai 76 dự án, trong đó 42 dự án bằng nguồn vốn đầu tư công còn lại là dự án đầu tư nguồn ngoài ngân sách. Với vị trí thuận lợi, huyện Yên Dũng có điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho phát triển KT-XH; nhu cầu về đất ở, nhà ở của người dân là rất lớn. Dự báo, đến năm 2030, dân số huyện khoảng 205 nghìn người, năm 2040 khoảng 225 nghìn người. Do vậy, huyện đề xuất giai đoạn 2022-2025 thực hiện 29 dự án KĐT, KDC.
Sử dụng hiệu quả quỹ đất ở
Tổng hợp của Sở Xây dựng, cùng với các huyện Tân Yên, Yên Dũng, năm 2022, các địa phương trong tỉnh đề xuất khoảng 100 dự án KĐT, KDC mới và đến năm 2025 khoảng 300 dự án về lĩnh vực này. Với việc vừa sử dụng vốn đầu tư công, vừa thu hút đầu tư ngoài nguồn ngân sách nhà nước, dự kiến năm 2022, toàn tỉnh có hàng nghìn lô đất, căn hộ cung cấp cho thị trường.
Yên Dũng là địa phương đầu tiên trong tỉnh tổ chức phiên đấu giá đất nền trong năm mới, cho thấy nhiều tín hiệu tích cực của thị trường BĐS tỉnh. Đó là 46 lô đất ở các xã Nội Hoàng, Tiến Dũng và thị trấn Nham Biền đều được trả giá với giá trúng 91 tỷ đồng, chênh lệch so với giá khởi điểm 43 tỷ đồng.
Phiên đấu giá đầu tiên thành công trong năm cho thấy, BĐS vẫn có sức hấp dẫn, thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh quan tâm. Tuy nhiên, để phát triển KĐT, KDC phù hợp với quy hoạch, trước mắt Sở Xây dựng đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án KĐT, KDC mới đang triển khai ngoài nguồn ngân sách.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 58 dự án KĐT, KDC mới không sử dụng vốn đầu tư công đã được UBND tỉnh chấp thuận đầu tư và phê duyệt kết quả lựa chọn chủ đầu tư.
Tổng hợp của Sở Xây dựng, cùng với các huyện Tân Yên, Yên Dũng, năm 2022, các địa phương trong tỉnh đề xuất khoảng 100 dự án KĐT, KDC mới và đến năm 2025 khoảng 300 dự án về lĩnh vực này.
Trong đó 18 dự án đã hoàn thành, cơ bản hoàn thành; 17 dự án đang thi công xây dựng; 13 dự án đang thực hiện giải phóng mặt bằng; 10 dự án đang hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi để trình thẩm định.
Với các dự án đề xuất mới, Sở tập trung thẩm định chặt chẽ các đồ án quy hoạch chi tiết, thiết kế cơ sở, nghiệm thu các dự án… để hình thành các KDC, KĐT đồng bộ, hiện đại.
Ông Đào Công Hùng, Phó Giám đốc Sở Xây dựng cho biết, việc triển khai KĐT, KDC mới từ nguồn vốn ngoài đầu tư công hiện nay khó khăn nhất vẫn là giải phóng mặt bằng. Do đó, Sở đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo UBND các huyện, TP tập trung đối thoại, gỡ vướng, sớm có mặt bằng sạch cho nhà đầu tư, nhanh chóng đưa dự án vào khai thác.
Đi đôi với giải pháp trên, Sở Xây dựng cũng dựa trên Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để rà soát lại toàn bộ quy hoạch KĐT, KDC bảo đảm đồng bộ, thống nhất với quy hoạch chung; phối hợp đánh giá rõ thực trạng, tình hình sử dụng đất ở các địa phương để sử dụng hiệu quả quỹ đất ở, tránh lãng phí nguồn lực.
Theo Trung tâm Phát triển quỹ đất và cụm công nghiệp huyện Lục Nam, đến nay huyện đã giải phóng mặt bằng (GPMB) được hơn 84% diện tích phục vụ đầu tư dự án Sân golf và nghỉ dưỡng Bắc Giang.
Dự án triển khai tại các xã: Chu Điện, Khám Lạng, Yên Sơn của huyện Lục Nam với tổng diện tích đất phải thu hồi 147 ha. Hiện nay đã GPMB được 123,5 ha, đạt hơn 84%.
Trong đó bao gồm: Đất rừng sản xuất GPMB được 92/104,7 ha; giải ngân cho 212/231 hộ gia đình, cá nhân với số tiền 67,6 tỷ đồng. Đất trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản… GPMB được 22,28/28,58 ha. Đất giao thông, thủy lợi… GPMB được 9,3 ha. Di chuyển được 74/81 ngôi mộ…
Diện tích chưa GPMB được do phải xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất hoặc một số hộ đang tranh chấp về đất. Nhiều hộ gia đình, cá nhân cho rằng giá bồi thường còn thấp, không nhất trí về đơn giá bồi thường. Có một vài trường hợp xây dựng công trình trái phép trên đất thuộc diện phải thu hồi.
Cán bộ cơ quan chức năng huyện Lục Nam và xã Chu Điện cùng người dân kiểm tra thực địa đất thuộc diện bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án.
Để bảo đảm tiến độ thực hiện dự án, thời gian tới, Trung tâm Phát triển quỹ đất và cụm công nghiệp huyện Lục Nam tập trung đẩy nhanh tiến độ GPMB; thực hiện đồng thời việc giải quyết những tồn tại, vướng mắc và triển khai các nhiệm vụ khác.
Phối hợp với các xã tập trung tuyên truyền, vận động về chủ trương, chính sách, mức giá bồi thường để người dân hiểu, tự giác chấp hành, đồng thuận thực hiện dự án. Hòa giải các trường hợp đang tranh chấp, có tính đến phương án giải quyết nếu hòa giải không thành.
Kiên quyết tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép; thiết lập đầy đủ hồ sơ để thực hiện cưỡng chế theo quy định đối với các trường hợp không chấp hành. Các phần việc phấn đấu hoàn thành trong tháng 3 và 4/2022.
Chủ đầu tư là Công ty cổ phần Golf Trường An phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Phát triển quỹ đất và cụm công nghiệp huyện Lục Nam, UBND các xã chủ động, khẩn trương giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện dự án.
Từ ngày 24/2/2022, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến Sân bay quốc tế Changi bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore. Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương, lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương tháp tùng Chủ tịch nước.
Tại chuyến thăm, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương đã có buổi làm việc song phương với lãnh đạo Tập đoàn CapitaLand. Đây là một trong những tập đoàn có tiếng về bất động sản với quy mô tầm cỡ tại châu Á. Thành lập và phát triển qua nhiều năm, CapitaLand đang xây dựng và chứng minh vị thế của mình trong thị trường bất động sản. Trụ sở chính của tập đoàn CapitaLand ở Singapore.
Tại buổi làm việc, đại diện Tập đoàn Capitaland giới thiệu về các dự án, công trình do CapitaLand đã thực hiện trên thế giới; thăm thực thế công trình Jewel towner – một trong những công trình biểu tượng do CapitaLand thực hiện tại sân bay quốc tế Changi Singapore.
Đồng thời, đại diện lãnh đạo Tập đoàn CapitaLand bày tỏ về nhu cầu đầu tư khu công nghiệp, Logistics và dịch vụ xanh thông minh tại tỉnh Bắc Giang.
Nhân dịp này, Chủ tịch UBND tỉnh chia sẻ với lãnh đạo Tập đoàn CapitaLand về kết quả phát triển KT- XH của tỉnh, thông tin về Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến 2050 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đồng chí nhấn mạnh, Bắc Giang là tỉnh đầu tiên trong cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tỉnh.
Đồng chí Lê Ánh Dương bày tỏ chiến lược đầu tư của Tập đoàn CapitaLand phù hợp với định hướng phát triển và nhu cầu thu hút đầu tư của tỉnh Bắc Giang. Đồng chí mong muốn việc triển khai dự án của CapitaLand tại Bắc Giang sẽ mở ra cú hích đầu tư cho tỉnh trong thời gian tới, đồng thời dẫn dắt nhiều nhà đầu tư lớn của Singapore đầu tư tại Bắc Giang.
Nhân dịp này, hai bên đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư của CapitaLand tại tỉnh Bắc Giang với tổng vốn đầu tư khoảng 1 tỷ USD.
Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương cam kết tỉnh Bắc Giang sẽ tạo mọi điều kiện để dự án triển khai thuận lợi nhất, đồng thời đề nghị Tập đoàn CapitaLand triển khai sớm để bảo đảm tiến độ.
Dưới đây là một số hình ảnh hoạt động của Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương tại buổi làm việc với lãnh đạo Tập đoàn CapitaLand:
Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương làm việc với đại diện lãnh đạo Tập đoàn CapitaLand.Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương ký biên bản hợp tác đầu tư với Tập đoàn CapitaLand tại Bắc Giang.Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương thăm, tìm hiểu mô hình hoạt động của Tập đoàn CapitaLand.Lãnh đạo Tập đoàn CapitaLand giới thiệu mô hình các công trình, dự án do Tập đoàn thực hiện tại các quốc gia trên thế giới.Ông Jason leow, Chủ tịch Tập đoàn CapitaLand tặng quà lưu niệm cho Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương.
UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định số 166/QĐ-UBND về việc phê duyệt Kế hoạch bảo trì các công trình đường bộ do tỉnh quản lý năm 2022.
Theo đó, thực hiện công tác quản lý, bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ trên 17 tuyến đường tỉnh và 5 tuyến đường huyện do tỉnh quản lý với tổng chiều dài 468,39 km. Tổng nguồn vốn thực hiện gần 95 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn sự nghiệp địa phương là 41 tỷ đồng, nguồn vốn ngân sách Trung ương cấp bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương gần 54 tỷ đồng.
Cụ thể, nguồn vốn sự nghiệp địa phương năm 2022 để tiếp tục thực hiện hoàn thành 5 công trình chuyển tiếp bao gồm: Sửa chữa nền, mặt đường và rãnh thoát nước ĐT.248 đoạn Km20+800-Km26; sửa chữa ĐT293 đoạn từ ngã tư Tân An đến ngã 3 giao tuyến nhánh 1 vào chùa Vĩnh Nghiêm; sửa chữa nền, mặt đường bảo đảm giao thông trên tuyến đường huyện Đại Lâm – An Hà; sửa chữa nền, mặt đường và công trình trên tuyến ĐT289 đoạn Km5+500 – Km9+700 và khởi công mới công trình sửa chữa nền, mặt đường và công trình trên tuyến ĐT293 đoạn từ ngã ba giao tuyến nhánh 1 đến ngã ba Khám Lạng và đoạn tuyến nhánh 1 từ ĐT293 đến cổng chùa Vĩnh Nghiêm.
Hình ảnh minh hoạ
Nguồn vốn ngân sách Trung ương sẽ thực hiện công tác quản lý, bảo dưỡng thường xuyên và sửa chữa định kỳ 17 tuyến đường tỉnh và 05 tuyến đường huyện do tỉnh quản lý với tổng chiều dài là 468,39 Km. Đồng thời, thực hiện hoàn thành và trả quyết toán cho 7 công trình gồm: Sửa chữa nền, mặt đường và công trình trên tuyến ĐT.295 đoạn từ Km34 – Km42+500; sửa chữa nền, mặt đường và rãnh thoát nước Km3 – Km10 ĐT295 (hỗ trợ kinh phí cho huyện Lục Nam); sửa chữa nền, mặt đường và công trình trên tuyến ĐT.291 (đoạn Km 19+550 – Km 25) trên địa bàn huyện Sơn Động.
Cùng đó, khởi công sửa chữa cầu Ngọc Thành ĐT295; sửa chữa nền, mặt đường, công trình trên tuyến đoạn Km14 – Km17, ĐT.295; sửa chữa cục bộ một số vị trí hư hỏng mặt đường, rãnh thoát nước thuộc ĐT296 và ĐT299.
UBND tỉnh giao cho Sở Giao thông vận tải có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, tuân thủ quy định pháp luật và phù hợp với nguồn vốn thực tế được giao.
Việc giao thương giữa khu vực phía Bắc của tỉnh Hải Dương với tỉnh Bắc Giang tới đây không còn cảnh cách trở đò giang, bởi hai tỉnh đã quyết định đầu tư các công trình giao thông nối huyện Yên Dũng (Bắc Giang) với TP Chí Linh (Hải Dương). Công trình sẽ gắn kết đôi bờ sông Thương, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội của hai tỉnh.
Đường dẫn cầu Đồng Việt kết nối với quốc lộ 37, TP Chí Linh sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH của địa phương.
Hai công trình kết nối
Hai thủ phủ vải thiều của cả nước là tỉnh Bắc Giang và Hải Dương triển khai lập quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với định hướng phát huy hiệu quả những tiềm năng lợi thế của các địa phương, huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phát triển toàn diện và bền vững.
Cuối tháng 11/2021, UBND tỉnh Bắc Giang đã có quyết định phê duyệt dự án xây dựng cầu Đồng Việt và đường dẫn lên cầu. Dự án có tổng vốn đầu tư gần 1.500 tỷ đồng. Điểm đầu thuộc địa phận xã Cảnh Thụy (huyện Yên Dũng, Bắc Giang); điểm cuối kết nối với đường quy hoạch thuộc địa phận xã Hưng Đạo (TP Chí Linh). Công trình có tổng chiều dài 8,59 km, trong đó cầu Đồng Việt dài 731,2 m; còn lại là đường dẫn.
Theo thiết kế, cầu Đồng Việt rộng 22,5 m; mặt đường dẫn rộng 21,5 m, tốc độ thiết kế 100 km/giờ. Dự án do Ban Quản lý dự án (QLDA) đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh Bắc Giang làm chủ đầu tư.
Để tạo kết nối đồng bộ, phát huy hiệu quả dự án cầu Đồng Việt và đường dẫn do tỉnh Bắc Giang đầu tư, tháng 12/2021, UBND tỉnh Hải Dương đã phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đường dẫn cầu Đồng Việt kết nối với quốc lộ 37, TP Chí Linh.
Dự án có tổng vốn đầu tư hơn 469,8 tỷ đồng từ nguồn ngân sách T.Ư và ngân sách tỉnh trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025. Tuyến đường dài gần 5,3 km. Điểm đầu tại km8+590 kết nối với điểm cuối của dự án cầu Đồng Việt và đường dẫn lên cầu do UBND tỉnh Bắc Giang đầu tư, thuộc địa phận xã Hưng Đạo; điểm cuối giao cắt với quốc lộ 37 thuộc địa phận phường Cộng Hòa (cùng TP Chí Linh). Đường dẫn được thiết kế quy mô đường cấp II đồng bằng, nền đường rộng 22,5 m, vận tốc thiết kế 80 km/giờ.
Theo ông Vũ Duy Đăng, Chủ tịch UBND xã Hưng Đạo, hiện nay việc kết nối giao thông giữa TP Chí Linh với huyện Yên Dũng chủ yếu qua phà Đồng Việt và cầu Cẩm Lý (cách phà Đồng Việt gần 20 km). Phà Đồng Việt thuộc địa phận xã Hưng Đạo đã hoạt động hơn 20 năm nay. Nhiều năm trước, lượng người qua phà rất lớn, đặc biệt vào mùa lễ hội. Tuy nhiên, những năm gần đây do phà nhỏ, lại xuống cấp nên lưu lượng người qua lại ngày càng ít. Để đi lại giữa hai bên, người dân phải đi đường vòng khá xa.
Hiện nay, trung bình mỗi ngày phà Đồng Việt chở từ 350 – 400 lượt khách, chủ yếu là lao động người địa phương làm việc trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp của huyện Yên Dũng. “Chính quyền và nhân dân trong xã đều phấn khởi, vui mừng khi biết tin 2 công trình giao thông kết nối Hải Dương và Bắc Giang qua địa bàn xã sẽ triển khai trong thời gian tới. Chúng tôi đã và đang rà soát diện tích đất phải thu hồi, sẵn sàng phối hợp với cơ quan chức năng của thành phố, của tỉnh để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án”, ông Đăng cho biết.
Phối cảnh cầu Đồng Việt.
Sớm khởi công xây dựng
Theo ông Đàm Văn Cường, Phó Giám đốc Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh Bắc Giang, cầu Đồng Việt và đường dẫn phía Bắc Giang được thiết kế tuyến đi qua 4 xã của huyện Yên Dũng và qua quy hoạch một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện.
Cầu Đồng Việt xây dựng vượt sông Thương cách bến phà Đồng Việt hiện nay khoảng 2,4 km về phía hạ lưu. “Các cơ quan chức năng của tỉnh Bắc Giang đang đẩy nhanh tiến độ công tác chuẩn bị đầu tư. Đơn vị đang triển khai thiết kế bản vẽ thi công, phấn đấu khởi công dự án trong tháng 5.2022”, ông Cường cho biết.
Hiện nay, các ngành chức năng của tỉnh Hải Dương cũng đã thực hiện các thủ tục cần thiết để chuẩn bị triển khai dự án. Sở Kế hoạch và Đầu tư đã cập nhật tuyến đường dẫn cầu Đồng Việt kết nối với quốc lộ 37, TP Chí Linh khi xây dựng quy hoạch tỉnh. Sở đã tham mưu tỉnh cân đối, bố trí vốn hằng năm cho dự án này. Sở Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, đưa diện tích đất phải thu hồi để thực hiện dự án vào phương án phân bổ đất đai trong quy hoạch tỉnh và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021- 2025, kế hoạch sử dụng đất hằng năm của tỉnh làm cơ sở thu hồi và giao đất thực hiện dự án.
Với vai trò là chủ đầu tư dự án, thời gian qua, Ban QLDA đầu tư xây dựng tỉnh Hải Dương đã tích cực triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư; phối hợp Sở Giao thông Vận tải thỏa thuận với Bộ Giao thông Vận tải vị trí đấu nối nút giao với quốc lộ 37. Thường xuyên phối hợp với Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh Bắc Giang để bảo đảm thực hiện và kết nối đồng bộ giữa 2 dự án. “Đến nay, dự án đã được phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Chủ đầu tư đang triển khai thiết kế bản vẽ thi công, lựa chọn nhà thầu và chuẩn bị các thủ tục, phối hợp để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng. Dự kiến trong tháng 6.2022, dự án sẽ được khởi công xây dựng”, ông Lê Anh Tuấn, Phó Giám đốc Ban QLDA đầu tư xây dựng tỉnh Hải Dương cho biết.
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 219/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 về phê duyệt Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Đến năm 2030, Bắc Giang trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại
Theo đó, phạm vi, ranh giới lập quy hoạch tỉnh Bắc Giang bao gồm toàn tỉnh Bắc Giang với diện tích tự nhiên 389.589 ha, tại tọa độ địa lý từ 21°07’ đến 21°37’ vĩ độ bắc; từ 105°53’ đến 107°02’ kinh độ đông, thuộc vùng Trung du và Miền núi phía Bắc. Phía Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn và một phần tỉnh Thái Nguyên, phía Nam giáp với tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp với tỉnh Thái Nguyên và thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp với tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Quảng Ninh.
Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đáp ứng phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030 của cả nước; các quy hoạch cấp quốc gia, cấp vùng, quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
Mục tiêu phát triển đến năm 2030 là phát huy mọi tiềm năng, lợi thế, nguồn lực để đưa Bắc Giang phát triển nhanh, toàn diện và bền vững. Công nghiệp là động lực chủ yếu cho tăng trưởng gắn với phát triển không gian mới, đưa Bắc Giang trở thành một trong những trung tâm phát triển công nghiệp của vùng; dịch vụ phát triển đa dạng, có bước đột phá; nông nghiệp phát triển ổn định, theo hướng an toàn, chất lượng và hiệu quả. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, đô thị được đầu tư đồng bộ, hiện đại. Khoa học, công nghệ, kinh tế tri thức được phát huy, trở thành nhân tố chủ yếu đóng góp cho nâng cao chất lượng tăng trưởng; phát triển mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội được phát triển toàn diện và thuộc nhóm tiên tiến của cả nước; đời sống vật chất, tinh thần và môi trường sống của nhân dân được nâng lên; mở rộng hợp tác, hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới; xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc.
Đến năm 2030, Bắc Giang trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, quy mô GRDP đứng trong nhóm 15 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước và đứng đầu vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2021 – 2030 đạt khoảng 15 – 16%
Về kinh tế, tỉnh Bắc Giang đặt mục tiêu phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2021 – 2030 đạt khoảng 15 – 16%, trong đó công nghiệp – xây dựng tăng 17 – 18%/năm (công nghiệp tăng 18 – 19%/năm, xây dựng tăng 12 – 13%/năm); dịch vụ tăng 10 – 11%/năm; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2 – 3%/năm.
Cơ cấu kinh tế, ngành công nghiệp – xây dựng chiếm khoảng 66 – 67% (công nghiệp chiếm 60%); ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 6 – 7%; ngành dịch vụ chiếm 24 – 25% và thuế sản phẩm 2 – 3%.
GRDP bình quân đầu người năm 2030 đạt khoảng 9.800 USD. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế năm 2030 khoảng 50%. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2021 – 2030 đạt khoảng 13%/năm, năm 2030 năng suất lao động bình quân đạt 475 triệu đồng/lao động. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân trên 18%/năm. Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thời kỳ 2021 – 2030 đạt trên 1,5 triệu tỷ đồng. Khách du lịch năm 2030 đạt trên 7,5 triệu lượt người.
Về văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, Bắc Giang đặc mục tiêu chỉ số phát triển con người HDI đạt 0,85. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 đạt trên 33%. Số giường bệnh/vạn dân đạt trên 40 giường. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1 – 1,5%/năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2030 đạt trên 90%, trong đó đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt khoảng 35 – 40%.
Về bảo vệ môi trường, tỷ lệ dân số được cấp nước sạch đạt 92% (trong đó thành thị đạt 100%; nông thôn đạt 90%). Tỷ lệ chất thải rắn thu gom được xử lý đạt trên 95% (trong đó, khu vực thành thị đạt 100%; khu vực nông thôn đạt trên 90%). 100% các khu, cụm công nghiệp và đô thị có hệ thống xử lý nước thải tập trung; các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường. Tỷ lệ độ che phủ rừng 37%.
Về không gian và kết cấu hạ tầng, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 55 – 60%. Xây dựng, mở rộng thành phố Bắc Giang theo hướng thông minh, đạt đô thị loại I, là trung tâm kinh tế, chính trị, dịch vụ của tỉnh. Huyện Việt Yên, Hiệp Hòa trở thành thị xã; thị trấn Chũ mở rộng trở thành thị xã, thị trấn Vôi đạt đô thị loại IV. Có 8/9 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới. Hạ tầng đầu tư phát triển cơ bản theo hướng đồng bộ, hiện đại. Hạ tầng giao vận tải thông suốt, an toàn; điện đảm bảo tốt nhu cầu sản xuất và sinh hoạt; nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt được đảm bảo; hệ thống đê điều, hồ đập an toàn; hạ tầng xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển.
Về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường quản lý về quốc phòng, an ninh; chủ động nắm chắc tình hình, không bị động, bất ngờ; thực hiện tốt phòng chống các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đảm bảo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Đến năm 2050, Bắc Giang là tỉnh công nghiệp hiện đại, phát triển toàn diện, bền vững
Bắc Giang đặt ra các đột phá phát triển đó là: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và cải cách hành chính; trong đó, tập trung vào việc nghiên cứu, ban hành hoặc đề xuất ban hành các cơ chế, chính sách về phát triển vùng động lực, sản phẩm chủ lực; kết cấu hạ tầng, thu hút nhà đầu tư lớn, sản xuất công nghiệp phụ trợ, cung cấp nguyên liệu đầu vào; chính sách hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu lao động… Tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển, trong đó, tập trung vào hạ tầng giao thông, công nghiệp, đô thị, chuyển đổi số… Phát triển toàn diện nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với khơi dậy khát vọng cống hiến, vươn lên. Phát huy giá trị văn hóa, đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, trọng tâm là hỗ trợ, đầu tư tăng tỷ lệ lao động chất lượng cao trong cơ cấu lao động.
Phấn đấu đến năm 2050, Bắc Giang là tỉnh công nghiệp hiện đại, phát triển toàn diện, bền vững. Phát triển công nghiệp xanh, công nghiệp sinh thái, tổ chức sản xuất với các khu, cụm công nghiệp tập trung, chuyên nghiệp; dịch vụ phát triển đa dạng, hiện đại, tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế; nông nghiệp sạch, chất lượng, hiệu quả. Tổ chức không gian phát triển khoa học; hệ thống đô thị hiện đại, thông minh; khu vực nông thôn phát triển hài hòa; hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, con người Bắc Giang. Giáo dục và đào tạo phát triển; chăm sóc sức khỏe nhân dân và an sinh xã hội không ngừng được cải thiện; tạo dựng cho người dân có cuộc sống tốt, mức sống cao. An ninh chính trị, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm./.
Dự án đẳng cấp số 1 Bắc Giang – Khu đô thị Rùa Vàng – Thị trấn Vôi chính thức ra hàng dãy N47 thuộc giai đoạn 3 của dự án.
Dưới đây là một số điểm nhấn của dãy:
Hướng Đông Nam nhìn vào khu biệt thự của dự án,
Hướng Tây Bắc là đường 20.5m vô cùng rộng rãi và thoáng đãng.
Hướng Đông Bắc là nhìn vào khu bể bơi và nhà thu đấu.
Hướng Tây Nam là khu dân cư hiện hữu.
Hàng mới ra chưa qua tay ai, vào hợp đồng thẳng với chủ đầu tư nênCác nhà đầu tư hãy nhanh chóng chọn cho mình một lô ưng ý để đầu tư ở đây nhé. Đầu tư sớm, sinh lời sớm ạ.
Tham gia phân phối các dự án bất động sản tại trung tâm TP Bắc Giang, Lạng Giang, Lục Nam, Yên Dũng, Tân Yên, Việt Yên.
Làm việc theo sự phân công của giám đốc/ quản lý chi nhánh.
II. Yêu cầu
Nhanh nhẹn, chịu khó, ham học hỏi, yêu nghề, giao tiếp tốt, ý thức làm việc tốt
III. Quyền lợi
Lương cứng + hoa hồng (có năng lực & chịu khó hoa hồng 50-200triệu/ tháng không khó) – Được làm việc trong môi trường trẻ trung, năng động, chuyên nghiệp, ham học hỏi, được rèn luyện, nâng cao trình độ trong mảng bđs, có khả năng thăng tiến lên vị trí quản lý, giám đốc sàn nếu làm tốt & gắn bó lâu dài với doanh nghiệp
Liên hệ để sắp xếp phỏng vấn: 085.311.8686 (Ms. Hoài)
UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định 161/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu công nghiệp (KCN) Việt Hàn, huyện Việt Yên (tỷ lệ 1/500).
Theo đó, phạm vi ranh giới, diện tích lập quy hoạch chi tiết KCN Việt Hàn, tỷ lệ 1/500 cơ bản phù hợp theo quy hoạch phân khu KCN Việt Hàn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, tỷ lệ 1/2000 đã được phê duyệt tại Quyết định số 693/QĐ-UBND ngày 14/7/2021.
Ranh giới cụ thể được xác định phía Bắc và Tây Bắc giáp đất ruộng và khu dân cư xã Hồng Thái; phía Nam giáp đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn; phía Đông giáp đất ruộng và khu dân cư xã Tăng Tiến; phía Tây và Tây Nam giáp giáp KCN Đình Trám và thôn Mi Điền.
Quy mô khu vực nghiên cứu lập điều chỉnh quy hoạch là 197,61 ha; trong đó diện tích lập điều chỉnh KCN Việt Hàn là 197,31 ha.
KCN Việt Hàn là KCN tập trung, đa ngành, có hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực công nghiệp cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác, thiết bị điện, máy móc thiết bị xây dựng, thiết bị y tế, sản xuất hàng tiêu dùng,… có công nghệ hiện đại, tiên tiến, thân thiện với môi trường (ưu tiên bố trí các ngành công nghiệp nhẹ, thân thiện với môi trường giáp khu vực dân cư, hạn chế thu hút đầu tư các ngành công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vào trong KCN).
Trên cơ sở định hướng quy hoạch chung đô thị Việt Yên, cơ cấu và phân khu chức năng công trình trong KCN được quy hoạch tổng thể, kiến trúc cảnh quan hài hòa, đảm bảo mỹ quan, hiệu năng sử dụng.
KCN được kết nối với giao thông đối ngoại thông qua điểm đấu nối với đường gom đường Cao tốc Hà Nội – Bắc Giang; đường nối QL17 với QL37; đường tỉnh ĐT295 và đường nội bộ KCN Đình Trám các tuyến đường giao thông đối ngoại có mặt đường rộng từ 11,25m đến 15m; các tuyến đường này kết nối với KCN; mạng lưới giao thông Cụm công nghiệp quy hoạch theo dạng ô bàn cờ tiếp cận các nhà máy, thuận tiện giao tiếp cho từng khu vực sản xuất cũng như trao đổi hàng hóa.
Công trình hành chính được quy hoạch phía Nam cửa ngõ của KCN, là nơi điều hành, nơi làm việc của đội PCCC, trưng bày, giới thiệu sản phẩm và công trình thương mại dịch vụ phục vụ cho KCN.
Quy hoạch các lô đất xây dựng nhà máy khoảng 2,0 ha cho đến 16,0 ha để thuận tiện bố trí cho các nhà máy, phù hợp với từng loại hình, dây truyền công năng sản xuất của các nhà máy.
Trạm xử lý nước thải và thu gom chất thải rắn được bố trí tại phía Tây Nam của KCN, là khu vực có cao độ thấp để thuận lợi cho thoát nước sau khi được xử lý. Toàn bộ nước thải trong các nhà máy sản xuất được xử lý cục bộ trước khi thu gom về trạm xử lý nước thải tập trung, sau đó thoát ra hệ thống thoát nước chung. Bố trí dải cây xanh cách ly với khu dân cư tạo cảnh quan, đảm bảo an toàn và cải tạo vi khí hậu trong KCN.
Những hạng mục chính ưu tiên đầu tư xây dựng bao gồm: Công trình như khu hành chính, nhà xưởng sản xuất; hạ tầng kỹ thuật hệ thống giao thông, hệ thống cấp nước, thoát nước, cấp điện và khu xử lý nước thải.